vanban.org

Bản án 46/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 14/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo On Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo On Thanh T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14-7-2022). Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo On Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HS-ST
Ngày 14-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Thơ.

2. Ông Nguyễn Viết Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Quốc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2022/TLST- HS ngày 27 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: On Thanh T, sinh năm 1989, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ A, khóm B, Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông On Thanh T và bà Trần Thị Mỹ C; Có vợ tên Phạm Thị Trúc M, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2020; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi kh i nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Lê Thị D, sinh năm 1944 (đã chết).

Cư trú: Tổ A, khóm B, Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

1. Đặng Thị G, sinh năm 1963 (con).

Cư trú: Tổ A, khóm B, Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

2. Đặng Thị H (con).

Cư trú: Số A, khóm B, Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

3. Đặng Thị Th, sinh năm 1970 (con).

Cư trú: Tổ A, khóm B, Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bà G, bà H, bà Th: Nguyễn Trung H, sinh năm 1996 (vắng mặt); Địa chỉ: Tổ A, khóm B, Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp (văn bản ủy quyền của bà G ngày 09/5/2021 và ủy quyền của bà H, bà Th ngày 20/12/2021).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. On Thanh T, sinh năm 1962 (có mặt).

2. Trần Thị Mỹ Ch, sinh năm 1965 (có mặt).

Cùng cư trú: Tổ A, khóm B, Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng: Võ Vĩnh L, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cư trú: Tổ A, khóm B, Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 06/12/2021, On Thanh T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 66P1-830.09, chở con gái tên On Khả V sinh năm 2020 và anh Võ Vĩnh L để đưa con gái về nhà ngoại tại thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Tại thành phố S, T và anh L cùng 03 người thân bên vợ của T uống khoảng 02 chai rượu Phú Lễ, loại 750ml thì nghỉ. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở anh L quay trở về thành phố E, tỉnh Đồng Tháp.

Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô chở anh L phía sau đi trên đường P hướng từ cầu T đến cầu C về đến thành phố E. Khi đến giao lộ P – C tổ A, khóm B, phường C, thành phố E do T không quan sát phía trước nên đã va chạm vào bà Lê Thị D đang dắt bộ xe đạp di chuyển trên đường P theo hướng ngược lại (đi ngược chiều), chuẩn bị sang đường. Hậu quả: Bà D bị chấn thương vùng đầu và tử vong vào ngày 07/12/2021.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 23 ngày 10/12/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Bà Lê Thị D có các tổn thương sau: Vết rách da vùng đỉnh – chẩm phải; Bầm tụ máu vùng trán – thái dương phải; Bầm tụ máu toàn bộ dưới da đầu; Tụ máu lan t a dưới màng cứng hai bên bán cầu số lượng nhiều; Xuất huyết não số lượng nhiều khoảng 500ml máu cục lẫn máu loãng; Dập não hai bán cầu, phù não bán cầu trái đẩy lệch đường giữa sang phải. Kết luận nguyên nhân chết của bà D là chấn thương sọ não nặng.

Căn cứ Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp, xác định: Nồng độ cồn (Ethanol) trong máu của On Thanh T là 144,7 mg/100ml máu.

Kết quả dựng lại hiện trường lúc 10 giờ ngày 08/12/2021 xác định: Giao lộ P – C đoạn đường P tại nơi xảy ra tai nạn là đường hai chiều, giữa tim đường có vạch kẻ đứt quãng màu vàng, mặt đường có kích thước 1040cm. Vùng va chạm nằm ở lề phải theo hướng di chuyển của xe mô tô, cách lề phải 125cm, có kích thước 20 x 20cm. Ngoài ra, tại hiện trường còn để lại 03 vết cày, có chiều dài là 688cm, 400cm, 270cm và 01 vết máu, kích thước 45 x 80cm.

Khám phương tiện xe mô tô biển số 66P1 – 830.09, ghi nhận: Gương chiếu hậu hai bên (phần gọng và phần kính) rời kh i xe; Mặt đồng hồ và ốp mủ phía trên có dính chất màu nâu, kích thước 14 x 4cm; Đầu tay cầm bên trái có vết ma sát mài mòn kích thước 2 x 0,5cm; Ốp bửng nhựa bên trái phía trước và cụm đèn xin đường bên trái có vết ma sát mòn kích thước 2 x 0,5cm; Ốp bửng nhựa bên trái phía trước và cụm đèn xin đường bên trái có vết ma sát mài mòn kích thước 6 x 6,5cm; Ốp bửng bên trái bị rời kh i xe; Ốp nhựa sườn bên trái có vết ma sát mài mòn kích thước 30 x 30cm và một số dấu vết khác do ma sát với mặt đường.

Khám phương tiện xe đạp, ghi nhận: Ghi đông bên trái bị cong về trước góc 800; Rổ xe bằng nhựa bị vỡ phức tạp; Cạnh dưới phía sau của rổ xe có vết ma sát mài mòn, kích thước 13 x 1cm; Tại cạnh trên phía sau bên trái có vết ma sát mài mòn, kích thước 4 x 0,5cm; Vành xe và lốp xe trước bị cong thụng, biến dạng; Pê đan, đùi xe bên phải bị gập vào trong chạm vào sườn xe.

Từ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi và kết luận giám định, xác định On Thanh T điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông, đồng thời khi điều khiển xe trong máu của T có nồng độ cồn vượt quy định, (đã vi phạm tại khoản 8 và khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ). Tuy nhiên, vụ tai nạn xảy ra cũng có một phần lỗi của nạn nhân vì đi bộ ngược chiều trên phần đường của người khác vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Sau khi xảy ra tai nạn, T đã bồi thường, hỗ trợ toàn bộ chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho gia đình nạn nhân là 150.000.000 đồng. Đại diện gia đình nạn nhân là anh Nguyễn Trung H đã có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu xử lý hình sự đối với T.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 66P1-830.09 do cha ruột của T là ông On Thanh T đứng tên chủ sở hữu và 01 xe đạp nhãn hiệu Plasma của bà D, bị hư h ng do tai nạn giao thông; 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên On Thanh T. Ngày 28/02/2022 và ngày 02/3/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp cho đại diện của bà D là anh H và xe mô tô cho ông T. Anh H và ông T nhận lại T sản không có yêu cầu gì.

Đối với anh Võ Vĩnh L là người ngồi phía sau xe mô tô 66P1 – 830.09 do T điều khiển vào thời điểm xảy ra tai nạn nhưng anh L chỉ bị xây xát nhẹ và anh L từ chối giám định và không yêu cầu bồi thường.

Tại cơ quan điều tra, On Thành T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường hiện trường; biên bản, bản ảnh khám nghiệm phương tiện; Kết luận giám định pháp y về tử thi, phiếu kết quả nồng độ cồn trong máu; lời khai của người làm chứng; vật chứng thu giữ và các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại cáo trạng số 40/CT-VKS-TPCL ngày 27 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo On Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo On Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo On Thanh T mức án 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là On Thanh T và Trần Thị Mỹ Ch trình bày: Không có yêu cầu gì và không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo On Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản dựng lại hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định pháp y về tử thi, kết quả xét nghiệm định lượng nồng độ cồn trong máu, lời khai của người làm chứng cùng các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Lúc 13 giờ 40 phút ngày 06/12/2021, On Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 66P1-830.09, chở phía sau là Võ Vĩnh L, đi trên đường P hướng từ cầu T đến cầu C. Khi đến giao lộ đường P – đường C thuộc tổ A, khóm B, phường C, thành phố E do trong người có nồng độ cồn, theo phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp xác định nồng độ cồn trong người của On Thanh T là 144,7mg/100ml máu vượt quá mức quy định tại khoản 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ và thiếu chú ý quan sát phía trước nên va chạm vào bà Lê Thị D đang dắt bộ xe đạp di chuyển theo hướng ngược lại (đi ngược chiều), chuẩn bị sang đường, gây tai nạn giao thông, hậu quả bà Lê Thị D tử vong do chấn thương sọ não nặng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ta.

Bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý, bị cáo điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ cồn theo kết quả xét nghiệm là 144,7mg/100ml máu vượt quá mức quy định tại khoản 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ và thiếu chú ý quan sát phía trước nên va chạm vào bà Lê Thị D đang dắt bộ xe đạp di chuyển theo hướng ngược lại (đi ngược chiều), chuẩn bị sang đường, hậu quả bà Lê Thị D tử vong do chấn thương sọ não nặng, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người; ...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:...

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...;”....

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại. Do đó cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại xong; được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình của bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương và bị hại có một phần lỗi đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, không cần thiết bắt phải chấp hành hình phạt tù mà chỉ áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, học tập, lao động, trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Đã th a thuận bồi thường thiệt hại xong, người đại điện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho On Thanh T 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 870070007416, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/5/2020 cho On Thanh T.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 66P1-830.09 do là ông On Thanh T (là cha ruột của T) đứng tên chủ sở hữu và 01 xe đạp nhãn hiệu Plasma của bà D bị hư h ng. Ngày 28/02/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp cho đại diện của bà D là anh H xong và ngày 02/3/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông T xong là phù hợp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo On Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo On Thanh T 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14-7-2022).

Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố E, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Đã th a thuận bồi thường thiệt hại xong, người đại điện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho On Thanh T 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 870070007416, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 20/5/2020 cho On Thanh T.

(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/6/2022).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo On Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ