- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng H mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giả…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HS-ST Ngày: 14/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:
Ông Trần Hữu Hiệu
Thẩm phán:
Ông Phạm Anh Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Hạnh
Bà Phạm Thị Thà
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/HSST- QĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng H, sinh năm 1990 tại Hải Dương; nơi ĐKHKTT: Số 18/21 HT, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương; nơi ở: Thôn Đ, xã KA, huyện K, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị H1; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2019 Công an huyện K, tỉnh Hải Dương đưa Nguyễn Trọng H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 30/10/2019 H chấp hành xong; bị tạm giữ từ ngày 17/6/2022 đến ngày 23/6/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.
- Người bào chữa: Luật sư Trần Trung K - Văn phòng luật sư Á Đông thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ: Số 15A Hồng Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Thị H1; có mặt
+ Anh Nguyễn Văn T; vắng mặt
- Người chứng kiến:
+ Anh Chử Hữu Tuấn A; vắng mặt
+ Anh Đặng Trung H2; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 17/6/2022, tại rìa Quốc lộ 17B, thuộc khu dân cư mới thông DM, xã NP, huyện K, tỉnh Hải Dương, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương kết hợp với Công an xã NP, huyện K, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang Nguyễn Trọng H có hành vi cất giấu trong túi quần phía trước bên phải 01 túi ni lon màu trắng, bên trong chứa các chất rắn tinh thể màu trắng. H khai đó là gói ma túy loại Ketamine, cất giấu để bán kiếm lời. Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilong màu trắng có kích thước khoảng (7x15) cm, bên trong chứa các chất rắn tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Sutra không đeo biển số, số máy CGA1-606479, số khung MH8DL 11ANLJ106453. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Trọng H tại thông Đ, xã KA, huyện K, tỉnh Hải Dương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương phát hiện, thu giữ: Tại gầm bàn uống nước bên cạnh chỗ H ngủ 01 túi nilon màu đỏ kích thước khoảng (20x20) cm, bên trong có 04 túi nilon màu trắng kích thước mỗi túi khoảng (7x15) cm, bên trong có tổng 267 viên nén màu xanh hình tròn, trên mặt các viên nén có in chữ VL (Ký hiệu M2); 08 túi nilon màu trắng, trong đó: 06 túi nilon màu trắng kích thước mỗi túi khoảng (5x10) cm, 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (10x20) cm và 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (5x5) cm: Bên trong các túi đều chứa các cục chất bột mịn màu trắng (Ký hiệu M3); 15 túi nilon màu trắng, trong đó 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (7x15) cm và 14 túi nilon màu trắng kích thước mỗi túi khoảng (2x2) cm bên trong các túi đều chứa các hạt tinh thể màu trắng (Ký hiệu M4); 01 cân điện tử màu trắng đỏ kích thước khoảng (10x5x2) cm, trên mặt cân có chữ Marrboro; 01 căn cước công dân số 030090005890 mang tên Nguyễn Trọng H; 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (5x10) cm bên trong có nhiều vỏ túi nilong kích thước khoảng (2x2) cm; số tiền 2.000.000 đồng. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trên, Nguyễn Trọng H khai mua của người đàn ông tên Khang không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực Quán Toan, thành phố Hải Phòng ngày 15/6/2022 với giá 120.000.000 đồng nhưng chưa trả tiền, về nhà H dùng cân điện tử chia ma túy thành các gói nhỏ mục đích để bán kiếm lời.
Tại các Kết luận giám định số 404 ngày 19/6/2022, số 80 ngày 28/6/2022 và số 128 ngày 29/6/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M1 gửi đến giám định có khối lượng là 31,963 gam là ma túy loại Ketamine; 267 viên nén hình trụ tròn màu xanh trong 04 túi nilon màu trắng được niêm phong ký hiệu M2 được gửi đến giám định có tổng khối lượng là 88,791 gam là ma túy loại MDMA; chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 08 túi nilon màu trắng được niêm phong ký hiệu M3 được gửi đến giám định có tổng khối lượng là 114,321 gam là ma túy loại Ketamine; chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 15 túi nilon màu trắng được niêm phong ký hiệu M4 được gửi đến giám định có tổng khối lượng là 17,295 gam là ma túy loại Methamphetamine; hàng chữ số CGA1-606479 đóng chìm ở thân máy và hàng chữ số MH8DL11ANLJ106453 đóng chìm ở khung xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Satria F150 là các hàng chữ số nguyên thủy do nhà sản xuất đóng ra; số tiền 2.000.000 đồng thu tại nơi ở của Nguyễn Trọng H là tiền thật.
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKS-P1 ngày 23/8/2022, Viện kiểm sát nhân tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Trọng H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng Nguyễn Thị H1 đồng thời là mẹ ruột của bị cáo xác định cơ quan điều tra thu giữ ma túy tại nơi ở của bị cáo H là đúng. Việc bị cáo cất giấu ma túy tại nhà, gia đình không ai biết.
Người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát luận tội tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì ông ngoại bị cáo được nhà nước tặng huân chương và cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất trong khung hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 39 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2022. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định, các túi nilon; tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 cân điện tử; trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân và số tiền 2.000.000 đồng. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét chỗ ở, các kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 17/6/2022, tại rìa Quốc lộ 17B, thuộc khu dân cư mới thông DM, xã NP, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Trọng H có hành vi cất giấu trong túi quần phía trước bên phải 01 túi ma túy Ketamin có khối lượng 31,963 gam. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại thông Đ, xã KA, huyện K, thu giữ 88,791 gam ma túy loại MDMA, 114,321 gam ma túy loại Ketamin và 17,295 gam ma túy loại Methamphetamin. Toàn bộ số ma túy trên, H cất giấu mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đặc biệt lớn đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý; xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện vì tư lợi. Tổng khối lượng ma túy bị cáo cất giữ để bán kiếm lời là 88,791 gam MDMA, 17,295 gam Methamphetamin và 146,284 gam Ketamin. Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo khai có ông ngoại có thành tích được tặng thưởng Huy chương nhưng không có căn cứ chứng minh. Do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Năm 2019 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 30/10/2019 đã chấp hành xong.
. Với khối lượng ma túy bị cáo mua bán, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội để trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định là chất cấm lưu hành, các túi nilon và chiếc cân điện tử thu giữ của bị cáo là công cụ bị cáo chia nhỏ ma túy để bán giá trị không lớn cần tịch thu cho hủy bỏ; chiếc căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của bị cáo và số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo là tài sản hợp pháp của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Những vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên Khang mà H khai mua ma túy vào ngày 15/6/2022 tại khu vực Quán Toan, thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Nguyễn Văn Tứ, sinh năm 1985, trú tại thông Đ, xã KA, huyện K là người cho H ở nhờ, không biết H dùng nhà ở của mình làm nơi cất giấu ma túy để bán, nên anh Tứ không đồng phạm với H về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Sutra không đeo biển số, có số máy CGA1-606479, số khung MH8DL11ANLJ106453 do bị cáo H điều khiển ngày 17/6/2022 đi bán ma túy. Quá trình điều tra xác định xe thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn Đ, xã KA, huyện K, tỉnh Hải Dương cho H mượn. Hiện anh Q không có mặt ở địa phương, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương tiếp tục quản lý chiếc xe để xác minh làm rõ xử lý sau nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
3. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2022.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
5. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy 01 bì niêm phong số 404/KL-KTHS của Công an tỉnh Hải Dương, ký hiệu T1 (bên trong có 30,997g ma túy loại Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M1); 01 hộp niêm phong số 404/KL-KTHS của Công an tỉnh Hải Dương, ký hiệu T2 (bên trong có 85,466g ma túy loại MDMA, 04 vỏ túi nilon màu trắng); 01 hộp niêm phong số 404/KL-KTHS của Công an tỉnh Hải Dương, ký hiệu T3 (bên trong có 111,906g ma túy loại Ketamine, 08 vỏ túi nilon màu trắng); 1 hộp niêm phong số 404/KL-KTHS của Công an tỉnh Hải Dương, ký hiệu T4 (bên trong có 16,660g ma túy loại Methamphetamine, 15 vỏ túi nilon màu trắng); 01 cân điện tử kích thước khoảng 10x5x2cm, đã qua sử dụng, trên mặt có chữ Marlbora; 01 túi nilon màu trắng bên trong có nhiều vỏ túi nilon kích thước khoảng 2x2cm.
Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số 030090005890 mang tên Nguyễn Trọng H và số tiền 2.000.000 đồng đựng trong 01 bì niêm phong số 128/KL-KTHS.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an tỉnh Hải Dương và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương ngày 07/9/2022).
6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hải Dương; - CQCSĐT - CA tỉnh Hải Dương; - CQTHAHS - CA tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Hiệu |