- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2, 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HS-ST Ngày 26 tháng 4 năm 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hằng - Giám đốc Trung tâm dân số huyện Y;
2. Ông Vũ Minh Đón - Nguyên Bí thư Đoàn xã L.
Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký TAND huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thơ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở, TAND huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2022/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 41/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:
Đào Văn S, sinh năm 1972. Sinh quán: xã A, huyện B, tỉnh Thái Bình. Trú quán: thôn C, xã D, huyện E, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: không biết chữ. Chức vụ: Không. Họ và tên bố: Đào Văn G, đã chết. Họ và tên mẹ: Lê Thị I, đã chết. Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm. Vợ: Vũ Thị M sinh năm 1975. Bị can có 03 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/9/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xét xử phúc thẩm, xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 09/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Hải Dương xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 15/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 23/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện E xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong bản án ngày 12/11/2018.
Đào Văn S bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Anh Lưu Văn T1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 05 phút ngày 22/12/2021, tại khu vực bãi đất trống, rìa đường 380, địa phận thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an xã N, huyện Y phát hiện, bắt quả tang Đào Văn S, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại vị trí S đang đứng 01 gói giấy bạc, kích thước 02cm x 0,5cm, bên trong chứa chất bột mầu trắng, niêm phong ký hiệu M1; thu tại túi quần phía trước bên trái của S đang mặc 02 ống nước cất và 02 xilanh chưa sử dụng, niêm phong ký hiệu M2; thu tại túi quần phía trước bên phải của Sđang mặc số tiền 110.000 đồng, niêm phong ký hiệu T1.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Văn S, không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại Kết luận giám định số 48/MT-PC09 ngày 25/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất mầu trắng dạng cục và bột, trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng 0,323 gam, là ma túy loại Heroine; Hoàn lại 0,313 gam Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu M1.
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận: bị cáo là người nghiện chất ma túy loại Heroine, nên khoảng 05 giờ ngày 22/12/2021, S có gặp và góp chung với 01 nam thanh niên lạ mặt ở khu vực bờ sông S, huyện E, tỉnh Hải Dương mỗi người 50.000 đồng được 100.000 đồng, rồi S sử dụng số tiền này mua của 01 người phụ nữ lạ mặt ở gần đó được 01 gói giấy bạc chứa ma túy Heroine cùng 02 ống nước cất và 02 xilanh chưa sử dụng, sau đó S cất giấu số ma túy trên vào trong túi quần đang mặc rồi cùng nam thanh niên lạ mặt kia đi tìm chỗ để sử dụng trái phép, nam thanh niên kia điều khiển xe mô tô của anh ta ( không nhớ đặc điểm và biển kiểm soát ) chở S đi đến khu vực bãi đất trống thuộc địa phận thôn T, xã N, huyện Y thì dừng lại, S đi bộ đi trước mang theo ma túy cùng nước cất và xilanh đi vào phía sau thùng container để cùng nhau sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng, thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên, còn nam thanh niên kia đã lợi dụng sơ hở và bỏ chạy trốn thoát cùng xe mô tô.
Kết quả điều tra không xác định được nhân thân người phụ nữ bán ma túy cho S cũng như người thanh niên chung chi tiền với S để mua ma túy sử dụng chung. Nên không có cơ sở để xem xét xử lý.
Đối với vật chứng thu giữ của S: Số ma túy, nước cất và xi lanh đã thu giữ là những đồ vật liên quan đến tội phạm; riêng số tiền 110.000 đồng, theo Strình bầy thì là tiền trong số tiền 160.000 đồng của Sdùng để mua ma túy sử dụng trái phép, tuy nhiên do chung chi với người thanh niên lạ mặt nên S mới chỉ sử dụng hết 50.000 đồng, còn 110.000 đồng chưa sử dụng thì bị thu giữ.
Tại Cáo trạng số 47/CT-VKS-YM ngày 07/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố bị cáo Đào Văn S về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Y giữ nguyên quan điểm đã truy tố: Đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Đào Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn S từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tính từ ngày 22/12/2021.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về vật chứng:
Đối với 0,313g ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định, trong niêm phong ghi ký hiệu M1 là chất nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 02 ống nước cất và 02 xilanh chưa sử dụng, niêm phong ký hiệu M2 là dụng cụ sử dụng ma túy và không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với số tiền 110.000đồng mục đích sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp khách quan với lời khai người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 08 giờ 05 phút ngày 22/12/2021, tại khu vực bãi đất trống gần đường 380, địa phận thôn T, xã N, huyện Y, Đào Văn S đã có hành vi tàng trữ 0,323 gam ma túy loại Heroine để sử dụng trái phép, thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,323 gam ma túy loại Heroine để sử dụng trái phép nên VKSND huyện Y truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an nên việc áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do, không có tài sản lại là đối tượng nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng:
Đối với 0,313g ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định, trong niêm phong ghi ký hiệu M1 là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 02 ống nước cất và 02 xilanh chưa sử dụng, niêm phong ký hiệu M2 là dụng cụ sử dụng ma túy và không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với số tiền 110.000đồng đã thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận mang đi để mua ma túy, sử dụng nhưng do chung được với bạn nên bị cáo mới chỉ phải chi hết 50.000đồng, còn lại số tiền này, bị cáo đề nghị cho sung quỹ nhà nước nên HĐXX sẽ tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2, 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Văn S 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2021.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Sáu.
4. Về vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu hủy 0,313g ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định, trong niêm phong ghi ký hiệu M1 và 02 ống nước cất và 02 xilanh chưa sử dụng, niêm phong ký hiệu M2.
- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 110.000đồng (Một trăm mười nghìn đồng).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y ).
5. Về án phí: Bị cáo Đào Văn S phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hưng Yên - VKSND huyện Y;. - Công an huyện Y; - Chi cục THA huyện Y; - UBND xã D, huyện E, tỉnh Hải Dương; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Nhiên |