- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo PHẠM VĂN Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo PHẠM VĂN Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 107 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HS-ST Ngày: 21-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Đức Anh
2. Bà Vũ Thị Đượm
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
PHẠM VĂN TH, tên gọi khác: ThB; giới tính: Nam; sinh năm 2001 tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp B, xã XP, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Phạm Văn Tr và bà Vy Thị P; vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 21/11/2019, Tòa án nhân dân huyện X tuyên xử 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Đến ngày 21/2/2021, bị can Thchấp hành xong hình phạt tù . (Do lúc phạm tội Ththuộc trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án nên căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 107 Bộ luật hình sự được coi là không có án tích).
Bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2022.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo PHẠM VĂN Th là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 24/12/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Thđi từ thành phố Hồ Chí Minh về khu vực Amata thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để tìm mua ma túy. Tại đây, Thgặp được một người thanh niên không rõ lai lịch mua được 01 gói ma túy tổng hợp với số tiền 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Thcất giấu gói ma túy và đem về nhà thuộc ấp B, xã XP, huyện X, tỉnh Đồng Nai và sử dụng được 03 lần. Số ma túy còn lại Th đã hàn kín và cất giấu phía dưới hộp cắm wifi để trên tủ kính trong phòng bếp nhà Thọ.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/01/2022, lực lượng Công an xã XP đến tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hiện tại vị trí trên tủ kính để trong phòng bếp nhà Thcó 01 gói nylon, hàn kín, kích thước 02x02cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, Thkhai là ma túy, mục đích tàng trữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với PHẠM VĂN Th và niêm phong tang vật theo quy định.
- Tại bản kết luận giám định số 28/KLGĐ-PC09 ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,3618 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói ny lon hàn kín, kích thước 02x02 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Được niêm phong kí hệu M.
- 01 (một) bình nhựa có nắp gắn một ống thủy tinh và một ống nhựa (dụng cụ sử dụng ma túy).
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSXL ngày 28 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện X đã truy tố bị cáo PHẠM VĂN Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng và đề nghị:
Xử phạt bị cáo PHẠM VĂN Th: từ 14 tháng đến 16 tháng tù;
Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo PHẠM VĂN Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và sự thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, thể hiện:
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 03/01/2022, tại nhà PHẠM VĂN Th thuộc ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, huyện Xuân lộc, Đồng Nai. Lực lượng công an xã XP phối hợp với với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy huyện X phát hiện PHẠM VĂN Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy 01 gói nylon, hàn kín, kích thước 02x02cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng tại vị trí trên tủ kính để trong phòng bếp nhà Thọ. Thkhai là ma túy mua của người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực Amata thuộc Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai với giá 400.000 đồng để về sử dụng. Số còn lại Thcất giấu phía dưới hộp cắm wifi để trên tủ kính trong phòng bếp nhà Thọ. Qua giám định, kết luận tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,3618 gam, loại Methamphetamine.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo PHẠM VĂN Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với người thanh đã bán ma túy cho Thtại khu vực Amta thuộc Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai do chừa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) gói ny lon hàn kín, kích thước 02x02 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Được niêm phong kí hệu M, sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì được niêm phong mẫu vật sau giám định số 28/KLGĐ-PC09 ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai là phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 bình nhựa có nắp gắn một ống thủy tinh và 01 ống nhựa (dụng cụ sử dụng ma túy) không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo PHẠM VĂN Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo PHẠM VĂN Th: 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2022.
3. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong mẫu vật sau giám định số 28/KLGĐ-PC09 ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 bình nhựa có nắp gắn một ống thủy tinh và 01 ống nhựa (dụng cụ sử dụng ma túy).
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/3/2022).
3. Về án phí: áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Buộc bị cáo PHẠM VĂN Th bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo PHẠM VĂN Th được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đồng Nai;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- Công an H. Xuân Lộc;
- VKSND H. Xuân Lộc;
- CCTHADS H. Xuân Lộc;
- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- UBND cấp xã;
- Những người tham gia tố tụng;
- Hồ sơ thi hành án;
- Lưu AV, HS;
Bùi Thị Thanh
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - Bị cáo; - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Phượng |