- Tranh chấp gì? án hình sự — "L V D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo L V D, L M Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật hình sự và lượng hình; Điều 91 Bộ luật hình sự và lượng hình; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HS-ST Ngày 23-5-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lô Thị Huyền. Nghề nghiệp: Giáo viên
Ông Lô Thanh Tuân. Nghề nghiệp: Cán bộ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa- Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: L V D, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19 tháng 9 năm 1993 tại huyện K S, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản X Tr, xã M L, huyện K S, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L V Q và con bà L Th M; Vợ: M Th O, con: 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28 tháng 6 năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện K S, tỉnh Nghệ An xử phạt 13 tháng tù về Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24 tháng 02 năm 2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa
2. Họ và tên: L M Q, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 5 năm 2004 tại huyện K S, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản X T, xã M L, huyện K S, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L V Kh và con bà L Th N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24 tháng 02 năm 2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo L M Q: Ông L V Kh, sinh năm 1971. Trú tại: Bản X T, xã M L, huyện K S, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Văn Lý – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa
- Người chứng kiến: Anh C V H. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 23/02/2022, L V D đến nhà L M Q ở bản X T, xã M L, huyện K S, để rủ Quân cùng đi mua ma tuý về sử dụng, thì được Quân đồng ý. Sau đó, L V D và L M Q thuê xe máy lai của người đàn ông không quen biết đi đến bản Ph Kh, xã Tr L, huyện Q Ph. Đến nơi, D và Q xuống xe rồi cùng nhau đi bộ vào trong bản, tìm gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết được 01 gói Heroine với giá 400.000 đồng (Trong đó Q và D mỗi người góp 200.000 đồng). L M Q cầm gói Heroine cất vào trong túi quần bên phải đang mặc, rồi cùng L V D xin đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết về nhà. Khi về đến bản Ch L, xã M S, huyện T D, L V D và L M Q lên cơn nghiện ma tuý, nên đã xuống xe để tìm địa điểm vắng người sử dụng ma tuý. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi L M Q và L V D đang tìm nơi để sử dụng ma tuý ở khu vực bản Ch L, xã M S, thì bị tổ công tác Công an xã M S, huyện T D và Công an xã M L, huyện K S, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ trong túi quần bên phải của L M Q 01 gói Potylen màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. L V D và L M Q đều khai nhận số chất bột màu trắng là Heroine của D và Q cùng góp tiền mua về để sử dụng.
Kết luận giám định số: 304/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 28/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của L V D và L M Q gửi tới giám định là ma tuý (Heroine), có khối lượng 1,05 (Một phẩy không năm) gam.
Bản cáo trạng số 43/CT-VKS-TD ngày 18 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D đã truy tố L V D, L M Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo L V D mức án từ 16 tháng tù đến 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo L M Q mức án từ 09 tháng tù 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật;
Người đại diện hợp pháp của bị cáo L M Q: Xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L M Q.
Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự lượng hình ở mức thấp hơn theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo L V D cụ thể là 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù và lượng mình ở mức thấp nhấp theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo L M Q, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo L V D, L M Q đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 15 giờ ngày 23/02/2022, tại bản Ch L, xã M S, huyện T D, tỉnh Nghệ An. L V D và L M Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,05 (Một phẩy không năm) gam Heroin nhằm mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác Công an xã M S, huyện T D và Công an xã M L, huyện K S, tỉnh Nghệ An bắt quả tang. Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng người để áp dụng hình phạt sát đúng.
L V D là người khởi xướng, rủ bị cáo Q góp tiền để đi mua ma túy nên phải lên mức hình phạt cao hơn bị cáo Q là thỏa đáng.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D khởi xướng, rủ bị cáo Q chưa đủ 18 tuổi góp tiền mua ma túy về sử dụng, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Du có nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thái độ khai báo của các bị cáo là thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và lượng hình đối với bị cáo D theo mức đề nghị Kiểm sát viên là phù hợp. Bị cáo Q khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự và lượng hình bị cáo Q ở mức thấp nhất theo lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa là thỏa đáng.
Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo D chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo D.
Đối với người đàn ông xe máy lai chở các bị cáo và người đàn ông đã bán ma túy cho các bị cáo không rõ lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Xử lý vật chứng: 1,05g Heroine (đã lấy 0,2g để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Các bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố các bị cáo L V D, L M Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L V D.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L M Q.
+ Xử phạt: L V D 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2022.
+ Xử phạt: L M Q 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2022.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng số 67 ngày 19.4.2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo L V D, L M Q.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo L M Q có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23/5/2022.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện T D; - Công an huyện T D; - UBND xã M L, K S; - Người bào chữa; Người đại diện; - Các bị cáo, Trại tạm giam; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện T D; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Ái |