- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Đình Nhượng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Đình Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HS-ST Ngày 30-6-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Tùng;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tuấn Trung;
Ông Hoàng Ngọc Phiến;
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Miền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣơng Đình Nh, sinh ngày 25 tháng 01 năm 1978, tại Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố T Ph, thị trấn Đ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Đình Nh (đã chết) và bà Hoàng Thị Hải H, sinh năm 1955; có vợ là Đàm Thúy V, sinh năm 1978 và 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2006; tiền sự: Không.
Tiền án: 01
Tại bản án số 99/2019/HSST ngày 26/12/2019, của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Lương Đình Nh 18 tháng tù về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2021.
Nhân thân:
+ Ngày 08/7/2003, Công an huyện Phú Lương xử phạt Vi phạm hành chính về hành vi Vận chuyển trái phép chất ma tuý số tiền 5.000.000đ.
+ Ngày 31/8/2009 Chủ tịch UBND huyện Phú Lương ra quyết định đưa người nghiện ma túy vào chữa bệnh bắt buộc tại trung tâm chữa bệnh giáo dục, lao động xã hội tỉnh Thái Nguyên thời gian 12 tháng
+ Ngày 30/5/2012 bị TAND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
+ Ngày 05/5/2017 Chủ tịch UBND thị trấn Đ ra Quyết định quản lý cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình thời gian 06 tháng.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam hiện tại ngoại tại địa phương; (có mặt).
- Người chứng kiến: Anh Bàng Ngọc N, sinh năm 1991;
Địa chỉ: TDP Dương Tự Minh, thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 12/01/2022, tổ công tác Công an thị trấn Đu làm nhiệm vụ tại tổ dân phố T Ph, thị trấn Đ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện Lương Đình Nh có biểu hiện nghi liên quan đến ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Tại đây, thu giữ của Nh 01 (một) gói chất bột màu trắng được bọc bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng, Nh khai là ma túy loại heroine, Nh vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lương Đình Nh, số chất bột màu trắng nghi ma túy được thu giữ niêm phong theo quy định, ký hiệu bì niêm phong N. Hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị trấn Đ đã bàn giao hồ sơ, tang vật cùng đối tượng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Đình Nh tại tổ dân phố T Ph, thị trấn Đ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả: Không phát hiện thu giữ gì.
Hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày, tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng đối với 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Lương Đình Nh trong bì niêm phong ký hiệu N có khối lượng 0,091 gam. Lấy toàn bộ mẫu gửi giám định (ký hiệu bì A1).
Tại bản kết luận giám định số 244/KL-KTHS ngày 20/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,091 gam.
Quá trình điều tra Lương Đình Nh khai nhận: Bản thân Nh là người nghiện ma túy, khoảng 08 giờ 00 phút ngày 12/01/2022, Nh đi xe buýt đến khu vực đường tròn TL, thành phố Thái Nguyên mục đ ch để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Nh mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, rồi đi xe buýt về nhà. Khi đến khu vực thuộc tổ dân phố Trần Phú, thị trấn Đ, huyện Phú Lương thì bị công an thị trấn Đu phát hiện bắt quả tang, thu giữ số ma túy Nh chưa kịp sử dụng.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định chất ma túy, lời khai người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSPL ngày 11/5/2022, Viện Kiểm sát nhân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lương Đình Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Đình Nh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lương Đình Nh từ 30 đến 36 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa anh Bàng Ngọc N là người chứng kiến trong vụ án: Tòa án đã gửi giấy triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng người chứng kiến vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của người chứng kiến, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Quá trình điều tra, người chứng kiến không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến nên việc vắng mặt họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Việc Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến anh Bàng Ngọc N theo quy định.
Xét hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ căn cứ để xác định: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 12/01/2022, tại tổ dân phố TPh, thị trấn Đ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Lương Đình Nh có hành vi tàng trữ trái phép 0,091 gam ma túy loại Heroine, mục đ ch để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an thị trấn Đu, huyện Phú Lương phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nh đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a, …đã bị kết án về tội này…, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lương Đình Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Như chúng ta đã biết, tệ nạn ma tuý đang là điều nhức nhối của toàn xã hội. Đảng và nhà nước đã có nhiều biện pháp đấu tranh, nhằm xoá bỏ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng. Chính nó là nguyên nhân làm cho diễn biến tệ nạn ngày một phát triển, làm băng hoại đạo đức lối sống của cộng đồng và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn cố tình tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung thì việc đưa bị cáo Lương Đình Nh ra truy tố và xét xử là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Bị cáo là người đã có gia đình ổn định, nhưng với lối sống tự do buông thả, với thái độ bất chấp kỷ cương, coi thường chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Vì vậy khi lượng hình cần phải buộc bị cáo chịu mức hình phạt tương xứng. Có như vậy bị cáo mới thấy hết được lỗi lầm của mình có hướng sửa để trở thành công dân tốt. Song khi lượng hình cũng cần xem xét đến nhân thân các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, Bị cáo đã một lần bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng như tự nguyện tại gia đình nhưng đều tái nghiện.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là thương binh và được tặng thưởng huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy định của khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Hành vi của bị cáo là tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, không có mục đ ch thu lời bất chính nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy túy còn lại sau giám định thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành, mua bán; các vỏ phong bì niêm phong và giấy gói không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của một người đàn ông ở khu vực đường tròn TL (không rõ họ tên, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc so với lượng ma túy bị cáo tàng trữ. Về các vấn đề khác là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ ph năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lương Đình Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt: Bị cáo Lương Đình Nh 24 ( hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng:
* Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,072 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Bên trong có vỏ bì ký hiệu N và vỏ giấy gói.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận số 52/2022 ngày 17/5/2022 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Đình Nh phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phú Lương; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Công an huyện Phú Lương; - Chi cục THADS huyện Phú Lương; - Cơ quan THAHS - Công an tỉnh TN; - Trại tạm giam Công an tỉnh TN; - Bị cáo; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lý Thanh Tùng |