- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tường D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ h nh phạt của bị cáo Lê Tường D.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 249 Bộ luật H nh sự; Điều 355 Bộ luật Tố t ng h nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HS-PT Ngày: 29 - 9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường
Các thẩm phán: Bà Trần Thanh Hải
Ông Vũ Văn Túc
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần M Thêu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Hòa B nh t
phúc th m c ng khai v án h nh sự phúc th m th lý số 52/2022/TLPT-HS ngày 27/7/2022 đối với bị cáo: Lê Tường D do c kháng của bị cáo đối với bản án h nh sự s th m số 26/2022/HS-ST ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lư ng S n, tỉnh Hòa B nh.
* Bị cáo kháng cáo:
Lê Tường D, sinh ngày 16/5/2003 tại Hà Nội; n i thường trú khi bị bắt: số 01, phố B, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; chỗ hiện nay: CHCC số 15-07, Tòa nhà N, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Lê Mạnh T, sinh năm 1983, con bà Lê Kiều T, sinh năm 1983; bị cáo chưa c vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/7/2021 đến ngày 22/7/2021 được tại ngoại, c mặt tại phiên tòa.
* Các bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị:
- Nguyễn Anh M, sinh ngày 15/5/2003; trú tại: số 53, ngõ T, phố Đ, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; chỗ hiện nay: số 20, ngõ 17, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.
- Trần Đức H, sinh ngày 21/02/2003; trú tại: số 41, ngõ 158, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bùi Trung C, sinh ngày 24/9/2003; trú tại: P15, K2 B, quận H, thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng nghị:
Bà Lê Thị H, sinh năm 1967; trú tại: Tiểu khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
(Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo
và không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ s v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được t m tắt như sau:
Vào tối ngày 04/7/2021 Nguyễn Anh M, Trần Đức H, Lê Tường D, Bùi Trung C cùng nhau đi uống nước tại đường Phố H để bàn bạc việc đi nghỉ dưỡng tại thị trấn Lư ng S n, Hòa B nh. Trong lúc ngồi n i chuyện Nguyễn Anh M rủ Lê Tường D, Trần Đức H và Bùi Trung C g p tiền để mua ma túy dạng thuốc lắc với m c đích đi nghỉ dướng sẽ mang lên thị trấn Lư ng S n, Hòa B nh để s d ng. Nguyễn Anh M bảo cả nh m mỗi người g p 600.000 đồng để mua ma túy, D và H đồng ý g p tiền mua ma túy còn C kh ng s d ng ma túy nên kh ng đồng ý. Lê Tường D hỏi vay tiền của Bùi Trung C số tiền 600.000 đồng để g p mua ma túy, C đồng ý cho D vay số tiền trên. Sau khi được C đồng ý cho vay tiền, D thông báo với M về việc khi nào cần tiền để mua ma túy thì liên lạc với C để C đưa tiền mua ma túy.
Khoảng 20 giờ ngày 11/7/2021 Nguyễn Anh M gọi điện thoại cho Trần Đức H, Bùi Trung C để bảo H và C đến đưa tiền cho M đi để M đi mua ma túy, cả ba hẹn nhau tại đầu ngõ nhà M, sau đ đi ra cây ATM TPBank phố Bạch Mai để C rút tiền, rồi H và C mỗi người đưa cho M số tiền 600.000 đồng để M đi mua ma túy. Đến khoảng 02 giờ ngày 12/7/2021 M đi đến quán Internet Kim A trên phố B gặp một người đàn ng tên Đức để hỏi mua ma túy dạng kẹo. M đưa cho người đàn ng tên Đức số tiền 1.800.000 đồng được Đức đưa lại cho một túi nilon màu trắng viền đỏ bên trong c 06 viên ma túy dạng kẹo.
Khoảng 09 giờ ngày 13/7/2021 Nguyễn A M cùng với Trần Đức H, Lê Tường D, Bùi Trung C, Nguyễn Khánh V, Phạm Mai A tập trung tại nhà Lê Tường D để di chuyển lên n i nghỉ dưỡng thuộc TK9, thị trấn Lư ng S n, huyện Lư ng S n, tỉnh Hòa B nh. Khi đi Phạm Mai A có mua ba bình khí N2O và bóng bay dùng để hít khí cười với m c đích lên đến n i nghỉ dưỡng sẽ s d ng. Nguyễn A M mang theo 06 viên ma túy mua được. Khi đang đi trên e tô, M đã mang số ma túy mua được ra khoe với H, D và C.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13/7/2021 cả nh m lên đến n i nghỉ dưỡng tại TK 9 thị trấn L, huyện Lư ng S n, tỉnh Hòa Bình, M đưa cho D túi nilon đựng ma túy để D cất giấu vào túi sách tại g c bên phải của phòng ngủ bên trái. Sau khi ăn trưa xong, M lấy ma túy D cất tại tủ sách ra rồi cùng D và H lên giường ngủ phía bên trái của phòng ngủ để s d ng ma túy. Còn C cùng Vy và Mai A nằm ngủ giường phía bên phải của phòng ngủ. M cùng H và D mỗi người s d ng khoảng n a viên ma túy bằng cách uống với nước ngọt c ga, còn lại khoảng 4,5 viên trong túi nilon M đưa cho D cất giấu lại chỗ cũ.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày M cùng H và D tiếp t c s d ng ma túy, mỗi người s d ng khoảng n a viên, còn lại 03 viên ma túy, D cất lên tủ sách. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 13/7/2021 C ng an thị trấn Lư ng S n tiến hành kiểm tra thì M lấy túi nilon c chứa ba viên ma túy tủ sách đưa cho D để bảo D cất giấu, D đã n m túi nilon c chứa ba viên ma túy vào lọ l c b nh bằng gốm sứ cạnh lò sư i tại phòng khách. C quan Công an đã phát hiện thu giữ được số ma túy trên đồng thời tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các đối tượng. Tiến hành th nhanh chất ma túy bằng nước tiểu đối với Nguyễn A M, Trần Đức H, Lê Tường D cho kết quả dư ng tính với loại ma túy MDMA và Methaphetamine.
Tại kết luận giám định số 225/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 19/7/2021 của phòng PC09 Công an tỉnh Hòa B nh kết luận 03 viên n n màu anh trong túi nilon trong phong bì niêm phong g i giám định c khối lượng 1,10 gam là ma túy loại MDMA.
Tại kết luận giám định số 8831/C09-P4 ngày 10/12/2021 của Viện khoa học h nh sự Bộ Công an kết luận:
- Mẫu khí trong 01 b nh kim loại, màu vàng g i giám định là khí dinitrogen monoxide hay còn gọi là “khí cười”.
- 02 b nh kim loại màu anh da trời đã hết khí nên kh ng tiến hành giám định.
Tại bản án số 26/2022/HS-ST ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lư ng S n, tỉnh Hòa B nh đã t quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Tường D phạm tội: Tàng trữ trái ph p chất ma túy.
Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật H nh sự. X phạt Lê Tường D 22 (hai mư i hai) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/7/2021 đến ngày 22/7/2021. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án s th m còn tuyên bố tội danh, điều luật áp d ng, h nh phạt, lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với các bị cáo khác.
Ngày 24/6/2022 bị cáo Lê Tường D kháng cáo in giảm nhẹ h nh phạt và bị cáo kh ng rủ rê, lôi kéo Bùi Trung C phạm tội, bị cáo chỉ vay tiền của Bùi Trung C để g p tiền mua ma túy.
Trong giai đoạn chu n bị t phúc th m, bị cáo và mẹ bị cáo g i cho Tòa án chứng cứ về hoàn cảnh gia đ nh kh khăn, bố mẹ ly h n từ khi bị cáo còn nhỏ, gia đ nh c thân nhân là liệt sĩ.
Tại phiên tòa phúc th m bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đồng thời khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị hội đồng t
em xét các t nh tiết giảm nhẹ để giảm h nh phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận. Về nội dung v án: Tòa án cấp s th m đã t bị cáo Lê Tường D về tội: Tàng trữ trái ph p chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật H nh sự là đúng người, đúng tội.
Tại phiên tòa phúc th m bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa c tiền án tiền sự, bị cáo có hoàn cảnh gia đ nh kh khăn. Bị cáo uất tr nh cứ cứ mới c thân nhân là liệt sỹ; bản thân bị cáo kh ng rủ rê l i k o bị cáo Bùi Trung C thực hiện hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng t căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự s a án s th m c thể: X phạt bị cáo Lê Tường D 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái ph p chất ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu c trong hồ s v án, căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
Về tố t ng: Trong quá tr nh kh i tố, điều tra, truy tố, t v án này các c quan và người tiến hành tố t ng cấp s th m đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố t ng h nh sự. Sau khi t s th m và trong thời hạn luật định bị cáo có kháng cáo hợp lệ được chấp nhận.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu c trong hồ s v án cũng như lời khai của bị cáo trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa s th m, phiên tòa phúc th m c đủ c s khẳng định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 13/7/2021 tại khu nghỉ dưỡng thuộc Tiểu khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa B nh, các bị cáo Nguyễn A M, Trần Đức H, Lê Tường D, Bùi Trung C c hành vi tàng trữ 1,10 gam ma túy loại MDMA. Số ma túy này do các bị cáo Nguyễn A M, Trần Đức H, Lê Tường D g p mỗi người 600.000 đồng mua được 06 viên và đã cùng nhau s d ng hết 03 viên, số tiền Lê Tường D g p tiền mua ma túy là vay của Bùi Trung C. Như vậy, Tòa án cấp s th m t các bị cáo về tội: Tàng trữ trái ph p chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật H nh sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng t
t thấy:
Đối với kháng cáo về t nh tiết bị cáo kh ng l i k o hay rủ rê Bùi Trung C phạm tội Hội đồng t nhận thấy: Tại c quan điều tra, tại phiên tòa s th m bị cáo Lê Tường D và bị cáo Bùi Trung C đều khai thống nhất với nhau: Lê Tường D vay Bùi Trung C số tiền 600.000 đồng để g p tiền mua ma túy với bị cáo Nguyễn A M. Các bị cáo là những người bạn cùng trang lứa với nhau, cùng nhau g p tiền đi ch i và g p tiền mua ma túy s d ng. Bị cáo Bùi Trung C kh ng s d ng ma túy nên kh ng đồng ý g p tiền mua ma túy mà chỉ cho Lê Tường D vay tiền để D g p tiền mua ma túy. Kh ng c hành vi Lê Tường D rủ rê hay lôi kéo Bùi Trung C vào việc mua hay tàng trữ, s d ng ma túy. Việc cấp s th m áp d ng điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật H nh sự đối với bị cáo Lê Tường D là chưa chính ác, cần phải s a án s th m về áp d ng điều luật này.
Đối với kháng cáo in giảm nhẹ h nh phạt Hội đồng t nhận thấy: Trong quá tr nh điều tra và tại các phiên phiên tòa s th m, phúc th m bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo c nhân thân tốt, chưa c tiền án tiền sự, bị cáo tuổi đời còn trẻ do đua đòi, tH hiểu biết nên rủ nhau mua ma túy s d ng; bị cáo uất tr nh thêm chứng cứ mới là c thân nhân là liệt sỹ, hoàn cảnh gia đ nh kh khăn, bố mẹ ly h n khi bị cáo còn nhỏ, hiện bị cáo sống với mẹ và em còn rất nhỏ. Mặt khác, Tòa án cấp s th m áp d ng t nh tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật H nh sự đối với bị cáo là kh ng chính xác. Do vậy, cần giảm một phần h nh phạt cho bị cáo để phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.
Án phí phúc th m: Bị cáo Lê Tường D kh ng phải chịu án phí h nh sự phúc th m.
Các quyết định khác của bản án s th m kh ng c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng h nh sự;
Chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ h nh phạt của bị cáo Lê Tường D.
S a bản án s th m số 26/2022/HS-ST ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lư ng S n, tỉnh Hòa B nh. C thể:
1. Về tội dA:
Tuyên bố bị cáo Lê Tường D phạm tội: Tàng trữ trái ph p chất ma túy
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật H nh sự.
X phạt bị cáo Lê Tường D 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/7/2021 đến ngày 22/7/2021.
3. Về án phí:
Áp d ng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng h nh sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.
- Bị cáo Lê Tường D phải nộp 200.000 đồng án phí h nh sự s th m, kh ng phải nộp án phí h nh sự phúc th m.
4. Các quyết định khác của bản án h nh sự s th m số: 26/2022/HS-ST ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lư ng S n, tỉnh Hòa Bình không có kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc th m c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 29/9/2022.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND cấp cao; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - TAND h. Lư ng S n; - C c THADS tỉnh Hòa Bình; - Người tham gia tố t ng; - Lưu VP, hồ s . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Trường |