vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 39 của Bộ luật Dân sự; Điều 88; Điều 101; Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 thán…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị T về việc tranh chấp xác định cha cho con. Tuyên bố anh Nguyễn Văn B là cha đẻ của con dự định đặt tên Nguyễn Nhật A, sinh ngày 26/3/2020, theo Giấy chứng sinh số 37, quyển số 06 ngày 26/3/2020 của Bệnh viện Việt Nam – Thủy Điển, Uông Bí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 39 của Bộ luật Dân sự; Điều 88; Điều 101; Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 thán…
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/ HNGĐ - ST
Ngày 26- 8- 2022
"Về việc tranh chấp
về xác định cha cho con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Tô Thị Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Giới

2. Ông Trần Văn Nam.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Hoàng Mạnh Hùng – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 53/2022/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Dương Thị T. Địa chỉ cư trú: khu T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn B. Địa chỉ cư trú: khu T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Vũ Văn T. Nơi cư trú cuối cùng: thôn K, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên hòa giải và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Dương Thị T trình bày: chị và anh Vũ Văn T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Do cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc nên chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2012, khi ly thân chị chuyển về sinh sống cùng với bố mẹ đẻ tại thôn N, xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Trong thời gian sống ly thân với anh T, chị đã quen biết và chung sống như vợ chồng với anh Nguyễn Văn B, hai người có một con chung được sinh ngày 26/3/2020, chị và anh B dự định đặt tên con là Nguyễn Nhật A. Vào ngày 10/11/2021, chị đã được Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn T, do vậy đến ngày 10/02/2022, chị và anh B đã thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Do con Nguyễn Nhật A được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh Vũ Văn T nên nay chị đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Văn B là cha đẻ của cháu Nguyễn Nhật A, theo Giấy chứng sinh số 37, quyển số 06 ngày 26/3/2020 của Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển, Uông Bí.

* Tại bản tự khai, tại phiên hòa giải và trong quá trình xét xử bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày: vào năm 2019, anh có tìm hiểu và chung sống như vợ chồng với chị Dương Thị T, sau đó hai người đã có với nhau một người con chung, tên dự sinh là Nguyễn Nhật A, sinh ngày 26/3/2020. Đến ngày 10/02/2022, anh và chị T tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vì con Nguyễn Nhật A được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Dương Thị T và anh Vũ Văn T nên anh không thể làm Giấy khai sinh cho con Nguyễn Nhật A được. Nay chị T đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu Nguyễn Nhật A, quan điểm của anh nhất trí với yêu cầu khởi kiện trên của chị T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn T hiện tại không có mặt tại nơi cư trú. Tại Biên bản làm việc ngày 31 tháng 5 năm 2002, ông Trần Văn Thành – Trưởng thôn Kiều Lương, xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh cho biết: anh T là người ở thôn K, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh nhưng không có mặt tại địa phương khoảng 7 đến 8 năm nay. Có thông tin anh T đã vào Miền Nam sinh sống, còn cụ thể anh T sinh sống ở tỉnh thành nào trong Miền Nam thì ông không được biết vì đi khỏi địa phương anh T không trình báo gì với chính quyền địa phương.

Vì anh Vũ Văn T không có mặt tại nơi cư trú nên Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

* Ngày 22/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có công văn phúc đáp về việc hiện nay Tòa án nhân dân huyện Quế Võ chưa thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy bỏ Quyết định tuyên bố anh Vũ Văn T mất tích.

* Ngày 30 tháng 3 năm 2022, chị Dương Thị T nộp cho Tòa án Kết quả giám định Gen (AND) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị Tòa án tuyên bố mất tích nên chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; áp dụng các Điều 88, 101, 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xác định anh Nguyễn Văn B là cha đẻ của cháu Nguyễn Nhật A, sinh ngày 26/3/2020, theo Giấy chứng sinh số 37, quyển số 06 ngày 26/3/2020 của Bệnh viện Việt Nam – Thủy Điển, Uông Bí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về điều kiện thụ lý vụ án: căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Dương Thị T thì đây là vụ án tranh chấp về việc xác định cha cho con quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, anh Nguyễn Văn B có địa chỉ cư trú tại khu T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Vũ Văn T, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định tuyên bố mất tích. Đến nay, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ chưa thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy bỏ Quyết định tuyên bố mất tích đối với anh Vũ Văn T. Vì vậy, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều tiến hành xác minh và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời tiến hành xét xử vắng mặt theo khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp: chị Dương Thị T và anh Vũ Văn T có đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống hai người có phát sinh mâu thuẫn nên chị T và anh T đã sống ly thân từ năm 2012; khi ly thân chị T đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại thôn N, xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Năm 2019, chị T có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng với anh Nguyễn Văn B, hai người có với nhau một người con chung, tên dự sinh là Nguyễn Nhật A, sinh ngày 26/3/2020, vì cháu Nhật A được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T và anh T nên anh B không thể làm giấy khai sinh cho cháu Nhật A được mặc dù hiện nay chị T và anh B đã đăng ký kết hôn.

Tại kết quả giám định Gen (AND) số 179/KQGĐ ngày 25/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: ông Nguyễn Văn B và bé trai (dự kiến đặt tên là Nguyễn Nhật A) có mối quan hệ huyết thống cha đẻ

- con đẻ).

Việc chị Dương Thị T đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Văn B là cha đẻ của cháu Nguyễn Nhật A là phù hợp với lời khai của chị Dương Thị T, anh Nguyễn Văn B và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định anh Nguyễn Văn B là cha đẻ của cháu Nguyễn Nhật A, sinh ngày 26/3/2020, theo Giấy chứng sinh số 37, quyển số 06 ngày 26/3/2020 của Bệnh viện Việt Nam – Thủy Điển, Uông Bí được quy định tại các Điều 88, 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về án phí: vì yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị T được chấp nhận nên anh Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 39 của Bộ luật Dân sự; Điều 88; Điều 101; Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị T về việc tranh chấp xác định cha cho con.

Tuyên bố anh Nguyễn Văn B là cha đẻ của con dự định đặt tên Nguyễn Nhật A, sinh ngày 26/3/2020, theo Giấy chứng sinh số 37, quyển số 06 ngày 26/3/2020 của Bệnh viện Việt Nam – Thủy Điển, Uông Bí.

2. Về án phí: anh Nguyễn Văn B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ