- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị Lê Thị L và anh Lê Văn V"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị L ly hôn anh Lê Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 9 - 2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu;
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Dũng Tấn;
2. Bà Lý Thị Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Tố Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh – kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2022 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1998
Địa chỉ: Thôn Ph Th, xã Th1 Ph1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm 1998
Địa chỉ: Thôn Ph Th, xã Th1 Ph1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa vắng mặt chị L, anh V. Chị L, anh V đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2022, bản tự khai ngày 08/4/2022 cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày:
Chị và anh Lê Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th1 Ph1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 17/6/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được gần 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra bất đồng, cải vã. Nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng không hiểu nhau, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, nên vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 01/2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn V.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Dương Th Ph, sinh ngày 16/01/2020. Hiện nay cháu đang ở với chị L. Ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị L không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 11/8/2022 anh Lê Văn V trình bày:
Anh và chị Lê Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/6/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Th1 Ph1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng gần 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra bất đồng cải vã. Vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 4/2021 đến nay. Nay cô L làm đơn xin ly hôn, anh V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh V cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Dương Th Ph, sinh ngày 16/01/2020. Hiện nay cháu đang ở với cô L. Ly hôn do con quá nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ nên anh V đồng ý giao con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh V đồng ý không cấp dưỡng nuôi con chung, anh V sẽ cho con theo cách của anh V.
Về tài sản và công nợ: Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa đã tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo Bộ luật Tố tụng dân sự hợp lệ cho anh Lê Văn V, nhưng anh V không đến Tòa án. Vì vậy Tòa án không tiến hành tổ chức phiên hòa giải giữa chị L và anh V được, thuộc trường hợp không thể tiến hành phiên hòa giải theo khoản 1 điều 207 Bộ luật TTDS
Tại phiên tòa vắng mặt chị L, anh V. Chị L, anh V đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn xin xét xử vắng mặt chị L vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh Lê Văn V, về con chung chị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Dương Th Ph, sinh ngày 16/01/2020, chị L không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chị L không yêu cầu giải quyết. Trong đơn xin xét xử vắng mặt anh Lê Văn V vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày anh đồng ý ly hôn với chị Lê Thị L; Về con chung do con còn nhỏ nên anh V đồng ý giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa có quan điểm: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa xét xử, thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa không có yêu cầu hoặc kiến nghị gì cần khắc phục vi phạm về tố tụng.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Khoản 1, Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Về hôn nhân: đề nghị xử cho chị Lê Thị L được ly hôn anh Lê Văn V.
Về con chung: Đề nghị giao cháu Lê Dương Th Ph, sinh ngày 16/01/2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi chon con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy;
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn V, anh V có hộ khẩu và nơi cứ trú tại Thôn Ph Th, xã Th1 Ph1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nên căn cứ vào khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Chị Lê Thị L và anh Lê Văn V đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, chị L, anh V đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị L và anh V.
. Về hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Lê Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th1 Ph1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 17/6/2019 và không vi phạm các điều cấm của luật hôn nhân gia đình như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được gần 02 năm, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau, không hợp nhau về tính tình và bất đồng quan điểm sống, nên vợ chồng thường xảy ra cải vã. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân nhau từ đầu năm 2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai, như vậy chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án cũng như trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị L đều đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn V. Do đó, căn cứ khoản 1 điều 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị L được ly hôn anh V là phù hợp.
. Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị L, anh V đều thừa nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Dương Th Ph, sinh ngày 16/01/2020. Quá trình giải quyết vụ án chị L, anh V đều có quan điểm đề nghị giao cháu Lê Dương Th Ph, sinh ngày 16/01/2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Như vậy căn cứ vào nguyện vọng của các bên, Hội đồng xét xử xét thấy cháu Lê Dương Th Ph còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy giao cháu Lê Dương Th Ph cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con chưa thành niên là trách nhiệm của người làm cha, làm mẹ, song quá trình giải quyết vụ án và trong đơn xin xét xử vắng mặt L không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Việc không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung của chị L là hoàn toàn tự nguyện. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy thấy giao cháu Lê Dương Th Ph, sinh ngày 16/01/2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
. Về tài sản và công nợ: Chị L, anh V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
. Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên, B v
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39; khoản 1 điều 228; điều 271; điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 9; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị L ly hôn anh Lê Văn V.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Lê Dương Th Ph, sinh ngày 16/01/2020 cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L.
Anh L có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0005858 ngày 05/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thiệu Hóa. (Chị L đã nộp đủ án phí).
3. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị L, anh V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự,
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Thiệu Hóa,
- TAND tỉnh Thanh Hóa,
(đã ký)
- UBND xã Th1 Ph1;
- Chi cục thi hành án dân sự Thiệu Hóa,
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Thị Thu
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thiệu Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Thi hành án dân sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Đạt |