vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Vũ P về việc yêu cầu ly hôn chị Trương Thị Mỹ H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Vũ P được ly hôn chị Trương Thị Mỹ H. 2. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Trần Vũ P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Trương Ngọc L, sinh ngày 15/01/2016 và Trần Vũ Phúc N, sinh ngày 27/8/2018. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu giải quyết n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Vũ P về việc yêu cầu ly hôn chị Trương Thị Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ CÁT
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21/9/2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Tấn Đạt.

+ Ông Phan Thanh Long.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hậu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trường Viên – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 313/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2022 về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Vũ P, SN: 1994

Trú tại: thôn Thái T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định

- Bị đơn: Chị Trương Thị Mỹ H, SN: 1995

Trú tại: thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định

(Anh P có mặt, chị H vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn anh Trần Vũ P trình bày:

Anh với chị Trương Thị Mỹ H tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã Cát T, huyện P vào ngày 23/10/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do các bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Từ giữa năm 2020 vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Anh nhận thấy vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trương Thị Mỹ H.

Anh với chị Trương Thị Mỹ H có 02 người con chung tên là Trần Trương Ngọc L, sinh ngày 15/01/2016 và Trần Vũ Phúc N, sinh ngày 27/8/2018. Hiện nay sức khỏe cháu L, cháu N phát triển bình thường và đang ở với anh. Khi ly hôn anh xin nhận nuôi cháu L, cháu N. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Trương Thị Mỹ H vắng mặt.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát tại phiên tòa:

Về tố tụng: việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của anh P kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chị Trương Thị Mỹ H vắng mặt nên chưa chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho anh P được ly hôn chị H, giao con chung là cháu Trần Trương Ngọc L, sinh ngày 15/01/2016 và Trần Vũ Phúc N, sinh ngày 27/8/2018 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung các đương sự không tranh chấp nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Anh Trần Vũ P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trương Thị Mỹ H. Đây là tranh chấp về Hôn nhân – Gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên yêu cầu khởi kiện của anh P được Tòa án chấp nhận.

Bị đơn chị Trương Thị Mỹ H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham dự phiên tòa nhưng chị H đều vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án và tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt bị đơn.

. Về nội dung tranh chấp:

. Anh Trần Vũ P với chị Trương Thị Mỹ H tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện P vào ngày 23/10/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa anh P với chị H được pháp luật thừa nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

. Theo nguyên đơn anh Trần Vũ P trình bày:

Sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do các bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Từ giữa năm 2020 vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Anh nhận thấy vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trương Thị Mỹ H

. Xét yêu cầu ly hôn của anh Trần Vũ P, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đã là vợ chồng, lẽ ra anh Trần Vũ P với chị Trương Thị Mỹ H phải có nghĩa vụ quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, phải cùng có trách nhiệm với nhau trong cuộc sống hôn nhân. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Từ năm 2020 vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai nhưng các bên không thể hàn gắn tình cảm để chung sống hạnh phúc nên anh P yêu cầu giải quyết ly hôn chị H. Đối với bị đơn chị Trương Thị Mỹ H nhiều lần Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án nhưng chị H đều vắng mặt. Tuy nhiên, qua kết quả xác minh bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột chị H thì được biết chị H hiện nay đang cư trú và sinh sống cùng với gia đình của bà tại thôn Đ, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, gia đình bà xác định vợ chồng anh P, chị H phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2020. Việc chị H không chấp hành sự triệu tập của Tòa án nên phải chịu hậu quả pháp lý từ việc không chấp hành sự triệu tập. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định quan hệ hôn nhân giữa anh P với chị H đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc anh P yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trương Thị Mỹ H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình – 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh P.

. Về con chung:

Anh Trần Vũ P với chị Trương Thị Mỹ H có 02 người con chung tên là Trần Trương Ngọc L, sinh ngày 15/01/2016 và Trần Vũ Phúc N, sinh ngày 27/8/2018. Hiện nay sức khỏe các cháu phát triển bình thường và đang ở với anh P từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì khi ly hôn anh P xin nhận nuôi cháu L, cháu N. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét yêu cầu xin nuôi con của anh P, Hội đồng xét xử thấy rằng: việc giao con chưa thành niên cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng phải xuất phát từ việc xem xét hoàn cảnh và điều kiện thực tế của người được trực tiếp nuôi con phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con để con được phát triển bình thường. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay cháu L, cháu N do anh P trực tiếp nuôi dưỡng nhưng anh P vẫn đảm bảo cuộc sống các cháu, các cháu đã quen với cách sống và sinh hoạt tại gia đình anh P. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Trương Ngọc L, sinh ngày 15/01/2016 và Trần Vũ Phúc N, sinh ngày 27/8/2018 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, anh Trần Vũ P phải chịu án phí ly hôn.

. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát tại phiên tòa là phù hợp, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Vũ P về việc yêu cầu ly hôn chị Trương Thị Mỹ H.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Vũ P được ly hôn chị Trương Thị Mỹ H.

1.2. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Trần Vũ P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Trương Ngọc L, sinh ngày 15/01/2016 và Trần Vũ Phúc N, sinh ngày 27/8/2018. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Án phí ly hôn: Anh Trần Vũ P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, anh P đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 00..... ngày .... tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ph, nay được khấu trừ.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt, thời hạn trên được tính kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ