- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Không công nhận chị Nguyễn Hồng C và anh Huỳnh Văn U là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN TỈNH CÀ MAU —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2022/HNGĐ - ST Ngày 26 - 5- 2022 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hoàng Tỷ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Bá Linh.
Ông Quách Văn Vệ
- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2022/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng C, sinh năm 1974; cư trú tại: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn U, sinh năm 1961; cư trú tại: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 07 tháng 3 năm 2022 chị Nguyễn Hồng C trình bày: Chị và anh Huỳnh Văn U kết hôn với nhau năm 1998, trên tinh thần tự nguyện, tuy nhiên không có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tuy nhiên thời gian gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, không quan tâm thương yêu chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn đã kéo dài mặc dù đã hàn gắn tuy nhiên không mang lại kết quả, hiện nay chị và anh U đã sống ly thân với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn U.
Về con chung: Chị và anh Huỳnh Văn U có một người con chung tên Huỳnh N, sinh năm 1999. Hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022 chị Nguyễn Hồng C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Chị xác định hiện nay vì điều kiện công việc nên đề nghị được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị vẫn bảo lưu ý kiến đã trình bày và không khiếu nại về việc vắng mặt của mình.
Anh Huỳnh Văn U đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản Tố tụng của Tòa án cho anh U và đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh U vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Nguyễn Hồng C và bị đơn anh Huỳnh Văn U Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển thụ lý giải quyết là đúng theo thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Huỳnh Văn U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tuy nhiên ông U vẫn vắng mặt không có lý do, chị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Huỳnh Văn U chị Nguyễn Hồng C tại phiên tòa.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Hồng C và anh Huỳnh Văn U được xác lập trên tinh thần tự nguyện, tuy nhiên không có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự quan tâm, thương yêu chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng mặc dù đã được hàn gắn tuy nhiên vẫn không mang lại kết quả, hiện nay chị C và anh U đã sống ly thân với nhau. Xét thấy trong cuộc sống vợ chồng giữa chị C và anh U thực tế phát phát sinh nhiều mâu thuẫn. Mặt khác trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến ngày xét xử chị C và anh U vẫn không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng, hiện nay chị C và anh U đã sống ly thân với nhau. Hôn nhân của chị C và anh U đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy nếu kéo dài tình trạng hôn nhân của anh chị thì cũng không thể đảm bảo mang lại hạnh phúc cho đôi bên. Chị Nguyễn Hồng C và anh Huỳnh Văn U không có đăng ký kết hôn theo quy định do đó áp đụng Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình không công nhận chị Nguyễn Hồng C và anh Huỳnh Văn U là vợ chồng.
Về con chung: Chị Nguyễn Hồng C và anh Huỳnh Văn U có một người con chung tên Huỳnh N, sinh năm 1999. Hiện nay đã trưởng thành, không mất năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu xem xét giải quyết.
Về tài sản chung; nợ thu; nợ trả: Các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Hồng C phải nộp 300.000 đồng. Chị C đã dự nộp 300.000 đồng được chuyển thu.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Huỳnh Văn U, chị Nguyễn Hồng C tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 14; khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Không công nhận chị Nguyễn Hồng C và anh Huỳnh Văn U là vợ chồng.
Về con chung: Chị C và anh U có một người con chung tên Huỳnh N, sinh năm 1999. Hiện nay đã trưởng thành, không mất năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu, xem xét giải quyết.
Tài sản chung; nợ thu; nợ trả: Các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Hồng C phải nộp 300.000 đồng. Chị C đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019976 ngày 07/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện N; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện N; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - UBND xã V, huyện N; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Tỷ |