vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào: Điều 39 Bộ luật dân sự.

2/ Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn Ph . 3/ Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành theo biên lai số AA/2020/000 4898 ngày 02 thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị D - Hoàng Văn Ph"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào: Điều 39 Bộ luật dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/12/2022
V/v :"Kiện xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Chỉ và ông Nguyễn Văn Giang.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thị Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tiến, Kiểm sát viên.

Ngày 29/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 281/2022/TLST-HNGĐ, ngày 02/11/2022 về việc kiện xin ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/QĐXX-ST ngày 12/12/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D , sinh năm 1974. Quê quán, nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn Ph , sinh năm 1972. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, trú quán: Thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ chị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn Ph kết hôn năm 1994, trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Sau 20 năm chung sống hạnh phúc, mấy năm gần đây vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc như xưa, hai bên không có tiếng nói chung, anh Ph thường cờ bạc, rượu chè say sỉn rồi đánh đập, xúc phạm chị. Gia đình và bạn bè, con cái đã động viên khuyên bảo nhưng không có kết quả. Chị đã nhiều lần phải ra ngoài thuê nhà trọ ở nhưng vì gia đình, vì con cái nên chị lại về đoàn tụ nhưng anh Ph không thay đổi. Chị đã về quê ngoại sinh sống, cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế với anh Ph từ tháng 7/2022 đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh Ph thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị xin ly hôn anh Ph.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hoàng Duy P, sinh năm 1995 và Hoàng Trung Đ, sinh năm 1999. Cả hai cháu đều đã trưởng thành và tự lập, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, anh Ph trình bày: Về điều kiện, thời gian kết hôn như chị D trình bày. Về mâu thuẫn vợ chồng: Anh xác định vợ chồng anh không có mâu thuẫn lớn nhưng có cãi chửi nhau, anh có đánh chị D, có uống rượu và đánh bạc, các con anh cũng động viên vợ chồng anh, chị D đã nhiều lần bỏ nhà đi, nhưng vì các con nên anh không đồng ý ly hôn chị D.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hoàng Duy P, sinh năm 1995 và Hoàng Trung Đ, sinh năm 1999. Cả hai cháu đều đã trưởng thành và tự lập, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, anh không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Chị D xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, chị không còn tình cảm đối với anh Ph, vợ chồng không thể đoàn tụ, chị giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh Ph; các con chị đã trưởng thành tự lập nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng.

- Anh Ph xác định vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không lớn, anh có uống rượu say, có đánh bạc nhưng đánh nhỏ và thỉnh thoảng có quan hệ trai gái bên ngoài nhưng vì con cái nên anh không đồng ý ly hôn chị D; anh xác định các con đều đã trưởng thành, tự lập; anh tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thụ lý đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự, thời hạn giải quyết, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà Hội đồng xét xử đã tuân theo Pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Hướng giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự. Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Xử cho chị D được ly hôn anh Ph; các đương sự đều không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung; chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ của vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương có đủ cơ sở xác định:

Bị đơn anh Hoàng Văn Ph có địa chỉ cư trú tại: Thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

1/ Xét về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Văn Ph kết hôn với nhau dựa trên cơ sở tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, là hôn nhân hợp pháp.

Chị D xác định anh Ph thường xuyên rượu say rồi đánh chửi chị và các con, thường xuyên cờ bạc và trai gái bất chính, chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu được ly hôn anh Ph.

Cháu Hoàng Duy P là con anh chị cũng xác định bố mẹ có nhiều mâu thuẫn, anh Ph hay say rượu về nhà gây sự, đánh chửi vợ con, có lần đánh chị D chết ngất phải đi bệnh viện và anh Ph còn thường hay đánh bạc, thua lỗ rồi về nhà gây chuyện, mất đoàn kết, bình yên trong gia đình, cháu P và gia đình đã khuyên bảo động viên nhiều nhưng không có kết quả, chị D đã nhiều lần phải bỏ nhà ra ngoài thuê trọ.

Anh Ph xác định vợ chồng có mâu thuẫn, cãi nhau, anh có đánh chị D một lần và có rượu chè, cờ bạc, trai gái nhưng anh xác định vợ chồng không có mâu thuẫn lớn, anh vẫn yêu chị D và vì con cái nên anh không đồng ý ly hôn chị D.

Qua chính quyền địa phương cung cấp: Anh Ph thường xuyên rượu chè, vợ chồng anh Ph chị D xảy ra nhiều mâu thuẫn, đánh cãi nhau, chị D đã bỏ đi khỏi địa phương nhiều tháng nay. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị D và anh Ph thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 39 Bộ luật dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị D được ly hôn anh Ph là phù hợp.

3/ Về con chung: Chị D và anh Ph có hai con chung là Hoàng Duy P, sinh năm 1995 và Hoàng Trung Đ, sinh năm 1999. Cả hai đều đã trưởng thành và tự lập nên không đặt ra việc giải quyết.

4/ Về tài sản chung, nợ chung: Chị D và anh Ph đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

6/ Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án, chị D có đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn anh Ph nên phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào: Điều 39 Bộ luật dân sự. Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Luật phí và lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

2/ Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn Ph .

3/ Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành theo biên lai số AA/2020/000 4898 ngày 02 tháng 11 năm 2022.

4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ