vanban.org

Bản án 46/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bé L.

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Bé L được ly hôn với anh Nguyễn Bữu Đ. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 12/3/2015 cho chị Nguyễn Bé L quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN LIỄU-ĐIỆN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bé L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T - TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH V

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Bảo Trân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Triệu.

Ông Sơn Nhật Thành.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huê, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh V mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 201/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Bé L, sinh năm 1988 (có mặt).

Địa chỉ: khóm A, thị trấn T, huyện H, tỉnh V.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Bữu Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện T, tỉnh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 3 năm 2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Bé L trình bày: Năm 2013 chị và anh Nguyễn Bữu Đ nhờ sự mai mối, hai bên tìm hiểu và tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh V. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về sống bên nhà chồng ở ấp T, xã L, huyện T, tỉnh V. Trong thời gian chung sống vợ chồng chị thường phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2020 thì mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, không thể hòa hợp nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh Đ không có trách nhiệm với gia đình và con, không lo làm ăn suốt ngày cờ bạc rượu chè nên chị và anh Đ sống ly thân từ năm 2020.

Nay chị L yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Bữu Đ.

Về con chung: 01 con chung tên Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 12/3/2015 hiện đang sống cùng chị và chị yêu cầu quyền trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Bé L xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Con chung Nguyễn Ngọc P trình bày tại bản tự khai ngày 20/6/2022: Nếu cha mẹ ly hôn nguyện vọng là được sống chung với mẹ.

* Sau khi thụ lý, Tòa án nhân huyện T đã ra thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải để các đương sự cơ hội đoàn tụ, thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên tại phiên họp, hòa giải anh Đ đều vắng mặt không có lý do nên không tiến hành việc kiểm tra chứng cứ và hòa giải được. Do đó Tòa án nhân dân huyện T lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử.

* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ. Trên cơ sở đơn khởi kiện, lời khai, lời trình bày của nguyên đơn, biên bản xác minh. Vị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 58 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bé L, cho chị và anh Nguyễn Bữu Đ ly hôn. Con chung Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 12/3/2015 giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Bé L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Bữu Đ, anh Đ có nơi cư trú tại ấp T, xã L , huyện T, tỉnh V. Con chung Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 12/3/2015 hiện đang sống chung với chị L, chị L yêu cầu được quyền nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản và nợ chung chị L xác định không có. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự đây là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh V.

[2] Về đưa người tham gia tố tụng và hòa giải: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh V đưa bị đơn là anh Nguyễn Bữu Đ tham gia tố tụng, thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại các Điều 68, 177, 196, 205, 208, 209, 210 và Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên vụ án không tiến hành hòa giải được do anh Đ vắng mặt đến lần thứ hai. Tại phiên tòa hôm nay chị L có mặt, anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về hôn nhân: Năm 2013 chị Nguyễn Bé L và anh Nguyễn Bữu Đ kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh V nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong quá trình sống chung chị L trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020, nguyên nhân do cả hai bất đồng quan điểm sống, anh Đ không có trách nhiệm với gia đình và con, không lo làm ăn suốt ngày cờ bạc rượu chè. Vì mâu thuẫn kéo dài nhiều năm, thời gian ly thân hai người bỏ mặc nhau, không thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Xét yêu cầu của chị L cũng như quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận. Vì sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Đ biết nhưng vẫn không đến, như vậy chứng minh anh Đ không có thiện chí mong muốn đoàn tụ, hàn gắn tình cảm với chị L. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm của chị L và anh Đ không còn, hai người ly thân từ năm 2020 đến nay bỏ mặc nhau, không yêu thương giúp đỡ nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên căn cứ Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T.

[3.2] Về con chung: Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 12/3/2015 hiện đang sống cùng chị L và chị yêu cầu quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu P có nguyện vọng sống chung với chị L. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu P cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với yêu cầu chị L và nguyện vọng cháu P.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Bé L xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.5] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bé L.

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Bé L được ly hôn với anh Nguyễn Bữu Đ.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc P, sinh ngày 12/3/2015 cho chị Nguyễn Bé L quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Bé L không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Bé L xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Bé L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0008681 ngày 04/4/2022 Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh V, chị L không phải nộp thêm.

3. Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho nguyên đơn có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú. * Nơi nhận:

Cỡ chữ