vanban.org

Bản án 46/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 22/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Ngọc P phạm t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc P 02 (hai) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Ngọc P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Ngọc P phạm t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2021/HSST
Ngày: 22/6/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Trình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Ngọc Diệp;

2. Ông Phan Công Chiến.

-Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Yến là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Phan Minh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 43/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:

Lê Thị Ngọc P, sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký h khẩu thư ng tr : Ấp TH, xã TP, huyện CT, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình đ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân t c: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông Lê Văn B (đã chết) và bà Trương Thị H, sinh năm 1954; Sống chung như vợ chồng với Đoàn Tuấn K, sinh năm 1972; Con: Có 02 ngư i con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư tr từ ngày 26/4/2021 cho đến nay. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trần Văn A, sinh năm 1993;

Nơi cư tr : Ấp LN, xã LP, huyện GT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

* Người làm chứng:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974;

Nơi cư tr : Ấp LN, xã LP, huyện GT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

* Người chứng kiến:

- Trương Thị Hồng A1, sinh năm 1943;

Nơi cư tr : Nhà trọ P thu c khu phố BK, Phư ng F, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

- Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1977;

Nơi cư tr : Ấp TT, xã TS, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 gi 10 ph t ngày 26/12/2019, tại nhà nghỉ Hoa Tuyết ở số 522/1, ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bến Tre phát hiện bị cáo Lê Thị Ngọc P có hành vi bán trái phép cho Trần Văn A 01 tép ma t y đá giá 350.000 đồng nên tiến hành lập biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang đối với bị cáo P và thu giữ tang vật, sau đó chuyển vụ việc về cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ, gồm:

- Thu giữ của Trần Văn A:

+ 01 đoạn ống h t nhựa, màu trắng, dài 03cm, hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa nhiều hạt dạng tinh thể màu trắng nghi là ma t y để trong 01 bao giấy (dạng thiệp m i) màu nâu, phía ngoài có nhiều hình ô vuông, ở mỗi gốc ô vuông có 02 hình tròn m t phần chồng lên nhau, phía trên nắp đậy bao giấy có 01 sọc ngang màu đỏ và 02 sọc ngang màu xanh, kích thước bao giấy 8cmx16cm (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M).

+ 01 điện thoại di đ ng màu đen hiệu Mobell, số Imei 1: 810093600080594, số Imei 2: 810094600080, số sim số thuê bao: 0788907240 (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ).

- Thu giữ của bị cáo P: 350.000 đồng (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu T).

Ngoài ra, qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo P tại phòng nghỉ số 1 và phòng tiếp tân của nhà nghỉ Hoa Tuyết, lực lượng Công an tiếp tục thu giữ:

Thu giữ tại phòng tiếp tân:

- 01 gói nylon màu trắng, được hàn kín bốn phía, kích thước 2x2cm, bên trong có chứa chất màu trắng nghi là chất ma t y để trong bao giấy màu nâu, có nhiều ô vuông, ở mỗi gốc ô vuông có 02 hình tròn chồng lên nhau (phát hiện dưới chân thùng loa (nghe nhạc) đặt trên nền gạch (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu P1).

- 01 đầu thu (ghi lại dữ liệu camera trong phòng tiếp tân) đặt sát tư ng cửa ra vào, đầu thu có hình vuông có chữ HIVISION, màu trắng (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu P5).

Thu giữ tại phòng nghỉ số 1:

- 01 gói nylon được hàn kín 03 phía, phía còn lại có rảnh khép và vạch màu đỏ, kích thước 4x7cm, bên trong có chứa chất màu trắng nghi là ma t y (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu P2).

- 01 gói nylon màu trắng hàn kín 03 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, kích thước 3x4cm, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là ma t y (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu P3).

- 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Iphone, màu xám, Imei: 354453062857852, có gắn sim số thuê bao: 0963363700 (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu P4).

- 01 giấy khai sinh tên Lê Thị Ngọc P, 01 chứng minh nhân dân số 321623722 tên Lê Thị Ngọc P, 01 giấy chứng sinh số 40 họ tên mẹ Lê Thị Ngọc P, 01giấy chứng nhận đăng ký h kinh doanh số 55A8016057, 01 hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, 01 phụ lục hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

- 01 dụng cụ (cân) hình chữ nhật màu đen, viềng màu trắng; 01 kéo kim loại màu trắng, mũi kéo có răng kẹp; 01 kéo kim loại màu trắng, lưỡi bị gãy; 01 đoạn ống h t nhựa màu xanh; 01 dụng cụ sử dụng ma t y bằng chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có đặt 02 ống nhựa màu trắng; 03 bao giấy (dạng thiệp) có hình ô vuông ở mỗi gốc ô vuông có 02 vòng tròn chồng lên nhau, kích thước mỗi bao 8x16cm; 10 gói nylon màu trắng 03 phía kín, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ; 05 gói nylon, màu trắng, 03 phía kín, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong các t i rỗng.

Qua làm việc, bị cáo P khai nhận 03 gói nylon có chứa chất màu trắng mà lực lượng Công an khám xét thu giữ tại phòng nghỉ số 1 và phòng tiếp tân nhà nghỉ Hoa Tuyết đều là ma t y đá và Heroine của bị cáo. Trong đó, ma t y đá do bị cáo mua của m t ngư i tên B1 (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 800.000 đồng, còn Heroine do bị cáo mua của m t ngư i không rõ lai lịch ở Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh với giá 400.000 đồng. Sau đó, bị cáo đem về cất giấu trong phòng tiếp tân và phòng nghỉ số 1 của nhà nghỉ Hoa Tuyết để sử dụng và bán cho ngư i khác. Đến khoảng 16 gi 10 ph t ngày 26/12/2019, Nguyễn Thanh T chở Trần Văn A đến nhà nghỉ Hoa Tuyết và A đã vào phòng tiếp tân gặp bị cáo mua 350.000 đồng ma t y đá, bị cáo bán cho A 01 tép ma t y đá để trong m t cái thiệp giấy. Khi A vừa ra khỏi phòng tiếp tân thì lực lượng Công an ập vào bắt quả tang và thu giữ toàn b tang vật như trên.

Theo Kết luận giám định số 162/2019/GĐMT ngày 27/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (m t) đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là ma t y, loại: Methamphetamine, khối lượng 0,0519 gam.

- Chất màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu P1 gửi giám định là ma t y, loại: Heroine, khối lượng 0,2013 gam.

- Chất màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu P2 gửi giám định là ma t y, loại: Heroine, khối lượng 0,2647 gam.

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu P3 gửi giám định là ma t y, loại: Methamphetamine, khối lượng 1,5635 gam.

Tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKSTPBT ngày 25 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo P về t i “Mua bán trái phép chất ma t y” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 B luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:

- Về t i danh và hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự: xử phạt bị cáo P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng do bị cáo không có thu nhập ổn định.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 47, 48 B luật Hình sự; Điều 106 B luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy:

+ 03 phong bì được niêm phong số 162/2019 - P1, 162/2019 - P2, 162/2019

- P3 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Huỳnh Văn Chiến và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre đựng chất ma t y còn lại sau giám định, do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành.

+ 01 sim số 0963363700 thu của bị cáo P do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y.

+ 01 sim số 0788907240 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan A, do A dùng liên hệ với bị cáo P để mua ma t y

+ 01 dụng cụ (cân) hình chữ nhật màu đen, viềng màu trắng; 01 kéo kim loại màu trắng, lưỡi bị gãy; 01 kéo kim loại màu trắng, mũi kéo có răng kẹp; 01 đoạn ống h t nhựa màu xanh; 01 dụng cụ sử dụng ma t y bằng chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có đặt 02 ống nhựa màu trắng; 03 bao giấy dạng thiệp có hình ô vuông, ở mỗi gốc ô vuông có 02 vòng tròn chồng lên nhau; 10 gói nylon màu trắng 03 phía kín, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong rỗng; 05 gói nylon màu trắng 03 phía kín, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong rỗng, do bị cáo P dùng sử dụng, mua bán ma t y.

Tịch thu, n p ngân sách Nhà nước:

+ 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Iphone, màu xám, Imei: 354453062857852 thu của bị cáo P do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y.

+ 01 điện thoại di đ ng màu đen hiệu Mobell màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 810093600080594, số Imei 2: 810094600080 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan A, do A dùng liên hệ với bị cáo P để mua ma t y.

+ Tiền Việt Nam 350.000 đồng thu của bị cáo P bán ma t y cho A vào ngày 26/12/2019 có được.

Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho bị cáo P 01 đầu thu (ghi lại dữ liệu camera trong phòng tiếp tân) đặt sát tư ng cửa ra vào, đầu thu có hình vuông có chữ HIVISION, màu trắng; 01 giấy khai sinh tên Lê Thị Ngọc P; 01 chứng minh nhân dân số 321623722 tên Lê Thị Ngọc P; 01 giấy chứng sinh số 40 họ tên mẹ Lê Thị Ngọc P; 01giấy chứng nhận đăng ký h kinh doanh số 55A8016057; 01 hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; 01 phụ lục hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

- Đối với việc A, T và bị cáo P trước đây khai ngoài lần bị cáo P bán trái phép ma t y cho A bị bắt quả tang vào ngày 26/12/2019 thì bị cáo P còn bán ma t y cho A 03 lần khác vào các ngày 19/12/2019, 24/12/2019 và 25/12/2019. Nhưng sau đó cả 03 đều thay đổi l i khai xác định ngoài lần mua bán trái phép ma t y bị bắt quả tang thì bị cáo P không có bán cho A lần nào khác; A và T khẳng định lại vào các ngày 19/12/2019, 24/12/2019 và 25/12/2019 cả hai có mua ma t y nhưng mua ma t y của m t ngư i tên C (không rõ họ, tên địa chỉ cụ thể). Ngoài ra, kết quả phục hồi dữ liệu camera thu tại nhà nghỉ Hoa Tuyết cũng xác định bị cáo P không có hành vi bán trái phép chất ma t y cho A và T vào các ngày nêu trên. Do đó, không đủ căn cứ để truy cứu thêm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo P đối với các bán ma t y này.

- Đối với Trần Văn A đã có hành vi trực tiếp mua, còn Nguyễn Thanh T có hành vi chở A đi mua trái phép 0,0519 gam ma t y loại Methamphetamine để sử dụng nhưng do chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự và A, T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y hoặc bị kết án về các t i phạm về ma t y nên Công an thành phố Bến Tre ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A, T là phù hợp.

- Đối với đối tượng tên C và tên B1 do không rõ họ tên địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Bị cáo P khai nhận: 03 gói nylon có chứa chất màu trắng mà lực lượng Công an khám xét thu giữ tại phòng nghỉ số 1 và phòng tiếp tân nhà nghỉ Hoa Tuyết đều là ma t y đá và Heroine của bị cáo. Trong đó, ma t y đá do bị cáo mua của m t ngư i tên B1 (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 800.000 đồng, còn Heroine do bị cáo mua của m t ngư i không rõ lai lịch ở Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh với giá 400.000 đồng. Sau đó, bị cáo đem về cất giấu trong phòng tiếp tân và phòng nghỉ số 1 của nhà nghỉ Hoa Tuyết để sử dụng và bán cho ngư i khác. Đến khoảng 16 gi 10 ph t ngày 26/12/2019, khi bị cáo bán cho A 01 tép ma t y đá với giá 350.000 đồng thì lực lượng Công an ập vào bắt quả tang và thu giữ toàn b tang vật. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định, không khiếu nại gì đối với các hành vi và quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc vắng mặt của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngư i làm chứng và những ngư i chứng kiến, bị cáo P không có ý kiến gì, Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt những ngư i này. Xét thấy việc vắng mặt của những ngư i này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những ngư i này là phù hợp theo quy định tại Điều 292, Điều 293 B luật tố tụng hình sự.

L i khai nhận của bị cáo phù hợp biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang ngày 26/12/2019, kết quả giám định, l i khai của những ngư i tham gia tố tụng khác, cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 26/12/2019, tại nhà nghỉ Hoa Tuyết ở số 522/1, ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, bị cáo P đã có hành vi bán trái phép cho Trần Văn A 0,0519 gam ma t y loại Methamphetamine thu được 350.000 đồng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bến Tre bắt quả tang cùng tang vật. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của bị cáo P 1,5635 gam ma t y loại Methamphetamine và 0,4660 gam ma t y, loại Heroine mà bị cáo P còn cất giấu để sử dụng và bán cho ngư i khác.

Bị cáo P là ngư i có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được các chất ma t y bị pháp luật cấm mua bán nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích kiếm l i. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo P về t i “Mua bán trái phép chất ma t y” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 B luật Hình sự là có căn cứ, đ ng pháp luật.

Hành vi của bị cáo P đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma t y, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thư ng của con ngư i, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã h i nơi các bị cáo cư tr và thực hiện t i phạm. Hành vi phạm t i của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến những t i phạm và tệ nạn xã h i khác, gây tâm lý bất an trong quần ch ng nhân dân.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, bị cáo P chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo P được hưởng là thành khẩn khai báo và đang nuôi con nhỏ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2, Điều 51 B luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức đ hậu quả do bị cáo gây ra, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t th i gian là điều cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã h i và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo P không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 03 phong bì được niêm phong số 162/2019 - P1, 162/2019 - P2, 162/2019

- P3 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Huỳnh Văn Chiến và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre đựng chất ma t y còn lại sau giám định, do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành.

+ 01 sim số 0963363700 thu của bị cáo P do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y.

+ 01 sim số 0788907240 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan A, do A dùng liên hệ với bị cáo P để mua ma t y

+ 01 dụng cụ (cân) hình chữ nhật màu đen, viềng màu trắng; 01 kéo kim loại màu trắng, lưỡi bị gãy; 01 kéo kim loại màu trắng, mũi kéo có răng kẹp; 01 đoạn ống h t nhựa màu xanh; 01 dụng cụ sử dụng ma t y bằng chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có đặt 02 ống nhựa màu trắng; 03 bao giấy dạng thiệp có hình ô vuông, ở mỗi gốc ô vuông có 02 vòng tròn chồng lên nhau; 10 gói nylon màu trắng 03 phía kín, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong rỗng; 05 gói nylon màu trắng 03 phía kín, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong rỗng, do bị cáo P dùng sử dụng, mua bán ma t y.

- Tịch thu, n p ngân sách Nhà nước:

+ 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Iphone, màu xám, Imei: 354453062857852 thu của bị cáo P do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y.

+ 01 điện thoại di đ ng màu đen hiệu Mobell màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 810093600080594, số Imei 2: 810094600080 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan A, do A dùng liên hệ với bị cáo P để mua ma t y.

+ Tiền Việt Nam 350.000 đồng thu của bị cáo P bán ma t y cho A vào ngày 26/12/2019 có được.

- Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho bị cáo P 01 đầu thu (ghi lại dữ liệu camera trong phòng tiếp tân) đặt sát tư ng cửa ra vào, đầu thu có hình vuông có chữ HIVISION, màu trắng; 01 giấy khai sinh tên Lê Thị Ngọc P; 01 chứng minh nhân dân số 321623722 tên Lê Thị Ngọc P; 01 giấy chứng sinh số 40 họ tên mẹ Lê Thị Ngọc P; 01giấy chứng nhận đăng ký h kinh doanh số 55A8016057; 01 hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; 01 phụ lục hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Đối với việc A, T và bị cáo P trước đây khai ngoài lần bị cáo P bán trái phép ma t y cho A bị bắt quả tang vào ngày 26/12/2019 thì bị cáo P còn bán ma t y cho A 03 lần khác vào các ngày 19/12/2019, 24/12/2019 và 25/12/2019. Nhưng sau đó cả 03 đều thay đổi l i khai xác định ngoài lần mua bán trái phép ma t y bị bắt quả tang thì bị cáo P không có bán cho A lần nào khác; A và T khẳng định lại vào các ngày 19/12/2019, 24/12/2019 và 25/12/2019 cả hai có mua ma t y nhưng mua ma t y của m t ngư i tên C (không rõ họ, tên địa chỉ cụ thể). Ngoài ra, kết quả phục hồi dữ liệu camera thu tại nhà nghỉ Hoa Tuyết cũng xác định bị cáo P không có hành vi bán trái phép chất ma t y cho A và T vào các ngày nêu trên. Do đó, không đủ căn cứ để truy cứu thêm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo P đối với các bán ma t y này.

Đối với Trần Văn A đã có hành vi trực tiếp mua, còn Nguyễn Thanh T có hành vi chở A đi mua trái phép 0,0519 gam ma t y loại Methamphetamine để sử dụng nhưng do chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự và A, T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y hoặc bị kết án về các t i phạm về ma t y nên Công an thành phố Bến Tre ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A, T là phù hợp.

Đối với đối tượng tên C và tên B1 do không rõ họ tên địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

L i phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa về t i danh; điều luật áp dụng; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định nên được H i đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo P bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Ngọc P phạm t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc P 02 (hai) năm tù.

Th i hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47, 48 B luật Hình sự; Điều 106 B luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 03 (ba) phong bì được niêm phong số 162/2019 - P1, 162/2019 - P2, 162/2019 - P3 có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Minh, Huỳnh Văn Chiến và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.

+ 01 (m t) sim số 0963363700 thu của bị cáo Lê Thị Ngọc P.

+ 01 (m t) sim số 0788907240 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn A.

+ 01 (m t) dụng cụ (cân) hình chữ nhật màu đen, viềng màu trắng; 01 (m t) kéo kim loại màu trắng, lưỡi bị gãy; 01 (m t) kéo kim loại màu trắng, mũi kéo có răng kẹp; 01 (m t) đoạn ống h t nhựa màu xanh; 01 (m t) dụng cụ sử dụng ma t y bằng chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có đặt 02 ống nhựa màu trắng; 03 (ba) bao giấy dạng thiệp có hình ô vuông, ở mỗi gốc ô vuông có 02 vòng tròn chồng lên nhau; 10 (mư i) gói nylon màu trắng 03 phía kín, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong rỗng; 05 (năm) gói nylon màu trắng 03 phía kín, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong rỗng.

- Tịch thu, n p ngân sách Nhà nước:

+ 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu Iphone, màu xám, Imei: 354453062857852 thu của bị cáo Lê Thị Ngọc P.

+ 01 (m t) điện thoại di đ ng màu đen hiệu Mobell màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 810093600080594, số Imei 2: 810094600080 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn A.

+ Tiền Việt Nam 350.000 (ba trăm năm mươi ngàn) đồng thu của bị cáo Lê Thị Ngọc P.

- Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả lại cho bị cáo Lê Thị Ngọc P 01 (m t) đầu thu (ghi lại dữ liệu camera trong phòng tiếp tân) đặt sát tư ng cửa ra vào, đầu thu có hình vuông có chữ HIVISION, màu trắng; 01 (m t) giấy khai sinh tên Lê Thị Ngọc P; 01 (m t) chứng minh nhân dân số 321623722 tên Lê Thị Ngọc P; 01 (m t) giấy chứng sinh số 40 họ tên mẹ Lê Thị Ngọc P; 01 (m t) giấy chứng nhận đăng ký h kinh doanh số 55A8016057; 01 (m t) hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; 01 (m t) phụ lục hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/6/2021, hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre đang quản lý).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 B luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i về án phí, lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lê Thị Ngọc P phải n p là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong th i hạn 15 (mư i lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ