vanban.org

Bản án 46/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 28/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Căn cứ: Điểm a, Khoản 1, Điều 260; Điểm b, s Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

*Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. *Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 12(mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24(hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thầm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? *Căn cứ: Điểm a, Khoản 1, Điều 260; Điểm b, s Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT
TỈNH PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2021/HSST
Ngày 28 - 10 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, TỈNH PT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Viết Tú

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thu Hương

Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Tấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện TT, tỉnh PT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, tỉnh PT tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh PT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Văn V; Tên gọi khác: Ngô; Sinh ngày: 23/12/1973 tại huyện TT, PT; Nơi cư trú: Khu 1 thị trấn TT, huyện TT, tỉnh PT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12. Con ông Trần Văn Cừ (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Dậu (Đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Giới, sinh năm 1972. Hiện ở thị trấn TT, huyện TT; Con: Có 3 con. Lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2005; Anh chị em ruột: Có 8 anh em, bị cáo là thứ 7; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Trần Văn V hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn TT, huyện TT, tỉnh PT (Có mặt).

- Người bị hại: Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1941; (Đã chết)

Địa chỉ: Khu 1, xã B, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đỗ Hồng S, sinh năm 1965;

Địa chỉ: Khu 1, xã B, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 4 giờ 40 phút ngày 20/6/2021, Trần Văn V điều khiển xe mô tô BKS 19L3- 7549 đi từ nhà ở của mình tại khu 1, thị trấn Thanh Thủy theo đường liên khu rồi qua ngã tư giao nhau với đường tỉnh lộ 317G để đi khu 3, thị trấn Thanh Thủy. Đến khoảng 4 giờ 50 phút, ông Đỗ Văn N đạp xe đạp trên tỉnh lộ 317G từ hướng xã B đến ngã tư giao nhau với đường liên khu từ khu 1 đi khu 3, thị trấn Thanh Thủy. Cùng lúc đó, Viện điều khiển xe mô tô đi từ khu 1, thị trấn Thanh Thủy đến ngã tư. Viện giảm tốc độ xe mô tô rồi quan sát các hướng đường đến ngã tư thì thấy trên đường tỉnh lộ 317G hướng từ khu 7, thị trấn Thanh Thủy đến ngã tư có ánh đèn xe mô tô đi tới nên Viện chỉ chú ý về hướng đường có ánh đèn xe máy, không quan sát các hướng đường còn lại. Khi điều khiển xe mô tô đi sát vào ngã tư, Viện thấy xe mô tô hướng khu 7, thị trấn Thanh Thủy đi chậm lại nên tăng ga để đi qua ngã tư, đồng thời vẫn nhìn về hướng ánh đèn xe máy. Khi đi vào ngã tư, Viện nhìn về phía trước thì thấy xe đạp do ông Ngôn điều khiển đã ở trước đầu xe mô tô. Lúc này, Viện không kịp đánh lái tránh nên đầu xe mô tô đã đâm vào phía trước bên trái của xe đạp làm xe đạp bị đổ và ông Ngôn ngã xuống đường. Xe mô tô của Viện điều khiển loạng choạng rồi đổ ra lòng đường, cách vị trí xe đạp đổ khoảng 3m. Viện đứng dậy đi đến vị trí ông Ngôn ngã để xem tình trạng của ông Ngôn thì ông Ngôn vẫn còn tỉnh. Lúc đó, anh Nguyễn Đức Kiểm - sinh năm 1975 ở khu 1, thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy cũng đi đến khu vực ngã tư. Thấy ông Ngôn bị tai nạn nên anh Kiểm đã gọi điện thoại cho con trai ông Ngôn là anh Đỗ Hồng Mai - sinh năm 1975, ở khu 1, xã B để báo tin. Khi anh Mai vừa đến thì ông Nguyễn Văn Nê - sinh năm 1966, ở khu 1, thị trấn Thanh Thủy (nhà ở gần hiện trường) biết có tai nạn nên cũng đến hiện trường. Sau đó mọi người nhờ ông Nê lái xe ô tô, cùng anh Mai và Viện đưa ông Ngôn đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Thanh Thủy. Sau đó ông Ngôn được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh PT, nhưng do thương tích quá nặng nên ông Ngôn đã tử vong vào khoảng 10 giờ ngày 20/6/2021. Trong khi đưa ông Ngôn đi cấp cứu, Viện điện thoại cho em trai ruột là anh Trần Quang Tuấn - sinh năm 1977, ở khu 1, thị trấn Thanh Thủy đến hiện trường đi xe mô tô của Viện về để tại nhà Viện (Viện không nói cho anh Tuấn biết việc tai nạn). Đến khoảng 13 giờ, anh Tuấn đến nhà Viện để mượn xe mô tô BKS 19L3-7549 của Viện đi chở hàng tại xã Hoàng Xá. Thấy xe của Viện bị hỏng không an toàn nên anh Tuấn đã đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Trần Thanh Bình - sinh năm 1985, ở khu 1, thị trấn Thanh Thủy mua 01 gương chiếu hậu bên trái, 01 cao su tay nắm lái bên trái và 01 để chân trước bên trái rồi mang về nhà mình thay vào xe mô tô BKS 19L3-7549, vì giỏ xe bị lỏng ốc định vị nên anh Tuấn đã tháo bỏ giỏ ở phía trước xe. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, Cơ quan CSĐT Công an huyện TT đã yêu cầu Viện mang phụ tùng cũ của xe mô tô BKS 19L3-7549 lắp lại vào xe mô tô để phục vụ công tác khám nghiệm.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh lộ 317G với đường liên xã thuộc khu 1, thị trấn Thanh Thủy, huyện TT, tỉnh PT. Đường tỉnh lộ 317G là đoạn đường thẳng, mặt đường rải nhựa tương đối bằng phẳng, rộng 12m, đường hai chiều, mỗi chiều rộng 6m, mỗi chiều được chia thành hai làn đường được ngăn cách bằng vạch kẻ sơn màu trắng nét liền, một làn dành cho xe cơ giới rộng 4m và một làn dành cho xe thô sơ rộng 2m; hai chiều đường không có dải phân cách giữa đường, có vạch kẻ đứt đoạn bằng sơn màu vàng chia đường thành hai phần đường xe chạy riêng biệt. Theo hướng từ thị trấn Thanh Thủy đi xã B, bên trái đường phía trước ngã tư có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên. Đường liên xã giao nhau với đường tỉnh lộ 317G thuộc khu 1, thị trấn Thanh Thủy là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa tương đối bằng phẳng, rộng 6m, hai bên đường không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn. Theo hướng từ khu 1 đi khu 3, thị trấn Thanh Thủy, bên phải đường phía trước ngã tư có biển báo giao nhau với đường ưu tiên. Hai đầu của điểm giao nhau đều có hệ thống gờ giảm tốc được sơn màu vàng. Tại ngã tư vị trí xảy ra tai nạn hướng đi xã B có điểm mở rộng 30m, hướng đi thị trấn Thanh Thủy có điểm mở rộng 33m, hướng đi khu 3, thị trấn Thanh Thủy có điểm mở rộng 23,3m, hướng đi khu 1, thị trấn Thanh Thủy có điểm mở rộng 23m. Theo hướng từ khu 1, thị trấn Thanh Thủy đi khu 3, thị trấn Thanh Thủy, tại hiện trường ghi nhận các dấu vết:

- Dấu vết một là vết cà xước mặt đường không liên tục, hướng theo hướng khám nghiệm, kích thước 1,9x0,01m. Từ vật chuẩn đo ngược hướng khám nghiệm đến điểm đầu dấu vết một là 12,3m. Từ điểm đầu và điểm cuối dấu vết một đo ra mép đường chuẩn lần lượt là 3,4m và 2,9m. Từ điểm đầu dấu vết một đo đến mép đường phải hướng B đi thị trấn Thanh Thủy là 0,38m, từ điểm cuối dấu vết một đo đến mép đường phải hướng B đi thị trấn Thanh Thủy là 1,37m.

- Dấu vết hai là vùng chất màu nâu đỏ bám dính trên mặt đường đã khô, kích thước 0,58x0,3m. Theo hướng khám nghiệm đo từ điểm cuối dấu vết một đến khoảng giữa dấu vết hai là 0,55m. Từ điểm giữa dấu vết hai đo ra mép đường chuẩn là 3,4m, đo đến mép đường phải hướng B đi thị trấn Thanh Thủy là 1,7m.

- Dấu vết ba là vết cà xước mặt đường liên tục, hướng theo hướng khám nghiệm, kích thước 5,75x0,02m, điểm cuối dấu vết là điểm tiếp xúc bàn để chân trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 19L3-7549 với mặt đường. Theo hướng khám nghiệm đo từ điểm cuối dấu vết một đến điểm đầu dấu vết ba là 1,05m. Từ điểm đầu và điểm cuối dấu vết ba đo ra mép đường chuẩn lần lượt là 2,7m và 1,6m; đo đến mép đường phải hướng B đi thị trấn Thanh Thủy lần lượt là 2,3m và 7,9m.

- Dấu vết bốn là vết cà xước mặt đường không liên tục, hướng theo hướng khám nghiệm, dấu vết dài 5,8m, đầu vùng dấu vết bám dính chất màu đen dạng cao su kích thước 0,37x0,025m, điểm cuối dấu vết là điểm tiếp xúc bàn để chân sau bên trái xe mô tô biển kiểm soát 19L3-7549 với mặt đường. Theo hướng khám nghiệm đo từ điểm đầu dấu vết bốn đến điểm đầu dấu vết ba là 0,42m. Từ điểm đầu và điểm cuối dấu vết bốn đo ra mép đường chuẩn lần lượt là 3,2m và 1,8m; đo đến mép đường phải hướng B đi thị trấn Thanh Thủy lần lượt là 2,25m và 7,5m.

- Dấu vết năm là xe đạp nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh bị đổ nghiêng về bên trái nằm trên đường liên xã hướng đi khu 3, thị trấn Thanh Thủy, đầu xe hướng theo hướng khám nghiệm, đuôi xe ngược hướng khám nghiệm. Theo hướng khám nghiệm đo từ điểm đầu dấu vết một đến trục trước và trục sau bánh xe lần lượt là 5,2m và 4,2m. Từ trục trước và trục sau bánh xe đo ra mép đường chuẩn lần lượt là 0,5m và 0,9m, đo đến mép đường phải hướng B đi thị trấn Thanh Thủy lần lượt là 3,45m và 2,5m.

- Dấu vết sáu là vùng kính vỡ gồm nhiều mảnh kính kích thước khác nhau nằm trên đường liên xã đi khu 3, thị trấn Thanh Thủy, kích thước vùng dấu vết 8x4,1m. Theo hướng khám nghiệm đo từ vật chuẩn đến điểm giữa dấu vết sáu là 0,8m. Từ điểm giữa dấu vết sáu đo ra mép đường chuẩn là 0,3m, đo đến mép đường phải hướng B đi thị trấn Thanh Thủy là 5,8m.

- Dấu vết bảy là xe mô tô biển kiểm soát 19L3-7549 bị đổ nghiêng về bên trái nằm trên đường liên xã đi khu 3, thị trấn Thanh Thủy, đầu xe hướng theo hướng khám nghiệm. Theo hướng khám nghiệm đo từ điểm đầu dầu vết một đến trục trước và trục sau bánh xe mô tô lần lượt là 9,2m và 8,1m. Từ trục trước và trục sau bánh xe mô tô đo ra mép đường chuẩn lần lượt là 1,1m và 1,7m, đo đến mép đường phải hướng B đi thị trấn Thanh Thủy lần lượt là 8,2m và 7,2m.

*Về phương tiện:

- Quá trình khám nghiệm phương tiện xác định trên xe mô tô BKS 19L3-7549 có các dấu vết:

+ Xe có hai gương chiếu hậu bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

+ Tại vị trí gương chiếu hậu bên trái, phần kính gương bị vỡ hoàn toàn. Mặt sau gáo gương có vùng chà sát mài mòn nhựa không rõ hình dạng, chiều hướng từ dưới lên trên, từ trước về sau, kích thước 10x4cm.

+ Mặt ngoài đầu mút tay nắm lái bên trái có vùng chà xát mài mòn mất nhựa hở lõi kim loại, kích thước 2,5x1,5cm. Phần kim loại bị hở trong vết chà sát này bị mài mòn không rõ hình dạng, chiều hướng, kích thước 1x0,2cm.

+ Giỏ xe phía trước bị bung bật chốt định vị bên trái. Vị trí mặt trước phía trên cách mép trên trước giỏ xe 1cm phát hiện dấu vết trượt xước mất sơn hở kim loại và nứt gãy không rõ hình dạng, chiều hướng từ trước về sau, kích thước 1,2x0,5cm. Vị trí thấp nhất của dấu vết cách mặt đất 82cm. Tại vị trí mặt ngoài bên trái giỏ xe có vùng trượt xước quyệt trượt mài mòn mất sơn hở kim loại, cong móp giỏ xe không rõ hình dạng, chiều hướng từ trước về sau, kích thước 20x17cm, vị trí thấp nhất dấu vết cách mặt đất 75cm. Tại vị trí phía dưới mặt ngoài giỏ xe bên phải phát hiện dấu vết trượt xước bong chóc sơn, cong móp không rõ hình dạng, chiều hướng, kích thước 8x5cm. Vị trí thấp nhất của dấu vết cách mặt đất 75cm.

+ Mặt ngoài đầu mút cao su bàn để chân trước bên trái có vết trượt xước cao su hở loại kim loại và phần kim loại bị hở có vết chà xước không rõ hình dạng, chiều hướng, kích thước 2x1,5cm.

+ Mặt trước phía ngoài bàn để chân sau bên trái có vùng chà xát kim loại không rõ hình dạng, chiều hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên, kích thước 3x0,5cm.

+ Má lốp bánh trước bên phải có vết trượt xước cao su không rõ hình dạng, kích thước 3x2cm, chiều hướng từ mặt lăn vào trong, vị trí gần nhất dấu vết cách chữ D trong dòng chữ “DOT” theo chiều bánh lăn tiến là 8,5cm.

- Quá trình khám nghiệm phương tiện xác định trên xe đạp nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh có các dấu vết:

+ Vị trí mặt ngoài phía trước tay nắm lái bên trái có vùng chà xước mài mòn nhựa không rõ hình dạng, chiều hướng, kích thước 1,5x1cm ,vị trí thấp nhất dấu vết cách mặt đất 94,5cm.

+ Mặt ngoài phía dưới đầu mút kim loại tay phanh bên trái có vết trượt xước kim loại bám dính chất màu đen, vị trí thấp nhất vùng dấu vết cách mặt đất 87cm.

+ Mặt ngoài phía trên giỏ xe bên trái có vết chà xước mài mòn nhựa không rõ hình dạng, chiều hướng, kích thước 2x0,2cm, vị trí thấp nhất vùng dấu vết cách mặt đất 92cm.

+ Đầu mũi chắn bùn phía trước bên phải có vùng chà xước kim loại không rõ hình dạng, chiều hướng, kích thước 3,5x1cm, vị trí thấp nhất dấu vết cách mặt đất 64cm.

+ Tại vị trí mặt ngoài ốc định vị thanh giằng bên trái bánh trước với chắn bùn và mặt sau ốc định vị trục xe bên trái phát hiện vùng dấu vết quyệt trượt sạch bụi, bề mặt bám dính chất màu đen, kích thước 3x1cm. Vị trí thấp nhất vùng dấu vết cách mặt đất 32cm.

Ngày 21/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Thủy đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh PT giám định dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 19L3-7549 và xe đạp nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh. Tại bản kết luận giám định số 791/KLGĐ-PC09 ngày 02/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh PT kết luận: “Vết trượt xước mất sơn hở kim loại và nứt gãy có chiều từ trước về sau ở mặt trước phía trên, bên trái của giỏ xe trên xe mô tô biển số 19L3-7549 phù hợp với vết trượt xước kim loại bám dính chất màu đen ở đầu tay phanh bên trái trên xe đạp nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh”.

* Về điểm va chạm trên phương tiện: Phần đầu xe mô tô BKS 19L3-7549 do Trần Văn V điều khiển đã va chạm vào phần đầu xe bên trái xe đạp do ông Đỗ Văn N điều khiển.

* Về điều kiện tham gia giao thông: Trần Văn V có giấy phép lái xe mô tô hạng A1. Sau khi xảy ra tai nạn, Công an huyện Thanh Thủy đã kiểm tra nồng độ cồn và kiểm tra chất ma túy trong cơ thể Viện, xác định trong hơi thở của Trần Văn V không có nồng độ cồn, trong máu của Viện không có chất ma túy.

Ngày 20/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Thủy đã trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh PT giám định nguyên nhân chết của ông Đỗ Văn N. Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 218/PC09-PY ngày 28/6/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh PT kết luận:

“1. Kết quả giám định chính:

- Trên cơ thể ông Đỗ Văn N có tổn thương sây sát da, tụ máu.

- Chấn thương sọ não: sây sát da, tụ máu phần chẩm phải, tụ máu tổ chức dưới da đầu, vỡ xương chẩm phải, chảy máu qua đường vỡ xương.

2. Nguyên nhân chết:

Nguyên nhân chết của ông Đỗ Văn N là do chấn thương sọ não”.

Qua giám định trong mẫu máu của ông Đỗ Văn N không có cồn (ethanol).

Ngày 20/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Thủy đã có công văn yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Thanh Thủy định giá thiệt hại tài sản sau vụ tai nạn đối với xe mô tô BKS 19L3-7549 và xe đạp nhãn hiệu Thống Nhất màu xanh. Tại Bản Kết luận định giá số 34/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Thủy kết luận “Giá trị thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông 01 chiếc xe mô tô BKS: 19L3-7549, nhãn hiệu: Honda, số loại: Dream, màu sơn nâu cần định giá là 440.000 đồng… Giá trị thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Thống Nhất màu sơn xanh, cần định giá là 120.000đồng”.

Quá trình điều tra xác định, Trần Văn V có giấy phép lái xe theo quy định, thời điểm xảy ra tai nạn giao thông Viện hoàn toàn tỉnh táo, làm chủ được hành vi của mình. Tuy nhiên, khi điều khiển xe mô tô BKS 19L3-7549 đi từ đường không ưu tiên đến ngã tư giao nhau với đường ưu tiên không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đạp của ông Đỗ Văn N đi trên đường ưu tiên nên đã đâm vào xe đạp do ông Ngôn điều khiển, làm ông Ngôn ngã xuống đường, bị thương và tử vong sau khi được đưa đi cấp cứu. Hành vi của Viện đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và Khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ, quy định các hành vi bị nghiêm cấm “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và “Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới”. Nguyên nhân dẫn đến vụ tại nạn là do lỗi của Trần Văn V, hành vi không chấp hành các quy định tại Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông của Viện là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả ông Ngôn tử vong.

Tại Bản cáo trạng số 46/CT - VKSTT ngày 04/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, tỉnh PT căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự truy tố bị cáo Trần Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

*Căn cứ: Điểm a, Khoản 1, Điều 260; Điểm b, s Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

*Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

*Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thầm.

Giao bị cáo cho UBND thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

*Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5, Điều 260 BLHS.

*Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 584; Khoản 1, Điều 585; Khoản 1, Điều 586; Khoản 1, Điều 590; Khoản 1, Điều 591 Bộ luật dân sự.

Xác nhận bị cáo Trần Văn V đã tự nguyện bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình ông Đỗ Văn N số tiền 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng), đại diện gia đình là ông Đỗ Hồng S (con trai của ông Ngôn) đã nhận số tiền trên, không yêu cầu phải bồi thường gì thêm và cũng không yêu cầu đối với thiệt hại của chiếc xe đạp.

*Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo V: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 19L3-7549, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 19L3-7549; 01 bảo hiểm xe mô tô BKS 19L3-7549; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Trần Văn V.

- Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Đỗ Hồng S (con của ông Đỗ Văn N) 01 xe đạp nhãn hiệu THỐNG NHẤT màu xanh.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, thể hiện thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung: Ngày 20/6/2021, tại ngã tư 317G thuộc Khu 1 thị trấn TT giao nhau với đường liên khu từ khu 1 đi khu 3, thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, Trần Văn V – Sinh năm 1973, ở Khu 1 thị trấn TT, huyện TT đã có hành vi điều khiển xe mô tô BKS 19L3- 7549 không chú ý quan sát khi đi vào ngã tư giao nhau, không nhường đường cho xe đi từ đường ưu tiên dẫn đến va chạm với ông Đỗ Văn N – Sinh năm 1941, ở khu 1 xã B, huyện Thanh Thủy đang điều khiển xe đạp theo hướng xã B đi thị trấn TT làm ông Ngôn ngã ra đường, bị chấn thương sọ não và tử vong sau khi được đưa đi cấp cứu. Hành vi của Trần Văn V đã vi phạm khoản 23 Điều 8, Khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả chết người nên hành vi của Trần Văn V đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, bị xử lý theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt đến 05 năm tù.

Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;”

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo không tuân thủ đúng quy định của luật giao thông đường nên đã gây ra tai nạn giao thông dẫn đến chết người, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân trong việc bảo vệ sức khỏe, tính mạng của mình khi tham gia giao thông. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo và có hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo cùng gia đình đã lo hậu sự, tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là "Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”và“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; được quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đại diện hợp pháp cho bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có bố đẻ là ông Trần Văn Cừ là người có công với Cách mạng, được Chủ tịch UBND tỉnh PT truy tặng Bằng khen Kháng chiến đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Vì vậy HĐXX áp dụng Khoản 2, Điều 51 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Từ sự phân tích trên, Sau khi xem xét nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX thấy rằng, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, thế hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5, Điều 260 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, bị cáo làm tự do công việc của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Đỗ Văn N số tiền 170.000.000đ, đại diện gia đình là ông Đỗ Hồng S (con trai của ông Ngôn) đã nhận số tiền trên, không yêu cầu phải bồi thường gì thêm và cũng không yêu cầu gì đối với thiệt hại của chiếc xe đạp, vì vậy cần xác nhận.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 19L3-7549, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 19L3-7549; 01 bảo hiểm xe mô tô BKS 19L3-7549; do bị cáo V điểu khiển gây tai nạn cho ông Ngôn. Quá trình điều tra xác định là xe mô tô đứng tên Trần Văn V là tài sản chung của gia đình bị cáo. Do vậy cần trả lại xe cho bị cáo là phù hợp.

Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Trần Văn V, do Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe đạp nhãn hiệu THỐNG NHẤT màu xanh, xác định là xe của ông Ngôn, cần trả lại cho gia đình người bị hại chiếc xe đạp là phù hợp.

Về án phí, quyền kháng cao: Bị cáo Trần Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo.

Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật, nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

*Căn cứ: Điểm a, Khoản 1, Điều 260; Điểm b, s Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

*Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

*Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 12(mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24(hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thầm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 46/2021/HSST-LCCT ngày 05/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh PT đối với bị cáo.

*Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5, Điều 260 BLHS.

*Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 584; Khoản 1, Điều 585; Khoản 1, Điều 586; Khoản 1, Điều 589; Điều 591 Bộ luật dân sự.

Xác nhận bị cáo Trần Văn V đã tự nguyện bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình ông Đỗ Văn N số tiền 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng), đại diện gia đình là ông Đỗ Hồng S (con trai của ông Ngôn) đã nhận số tiền trên, không yêu cầu phải bồi thường gì thêm và cũng không yêu cầu đối với thiệt hại của chiếc xe đạp.

*Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, b Khoản 3, Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo V: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM BKS 19L3-7549, 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 19L3-7549; 01 bảo hiểm xe mô tô BKS 19L3-7549; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Trần Văn V.

- Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Đỗ Hồng S (con của ông Đỗ Văn N) 01 xe đạp nhãn hiệu THỐNG NHẤT màu xanh.

Vật chứng trên được tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2021, tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh PT.

*Về án phí: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo Bản án, để yêu cầu TAND tỉnh PT xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ