- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Xuân Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 46/2021/HSST Ngày 30 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đức và ông Phan Hữu Tỷ
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Duy Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Ông Bạch Đình Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST - HS, ngày 19 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Đỗ Xuân Đ, sinh năm 1962 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Bon T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ B và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết); bị cáo có vợ Vương Thị N (đã chết) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại - có mặt
Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Anh Đỗ Thanh L, địa chỉ: Bon T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt.
Chị Nguyễn Thị Tuyết N, địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 4/2021, Đỗ Xuân Đ được một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) cho hạt giống cây cần sa và chỉ cho cách thức trồng, chăm sóc để làm thức ăn chữa bệnh cho vật nuôi. Đ mang số hạt giống trên về ươm vào các bịch nilon được khoảng 150 cây rồi đem trồng trong vườn cà phê của Đ tại Bon T, xã Đ, huyện Đ.
Đến khoảng tháng 8/2021, khi những cây cần sa đã trưởng thành, Đ dùng kéo cắt thân, cành, lá, hoa mang về nhà phơi khô và bỏ vào trong một thùng giấy, một thùng xốp, một túi nilon màu đen rồi cất giữ dưới mái hiên phía bên trái nhà mình.
Ngày 06-9-2021, Đ tiếp tục dùng kéo cắt thân, cành, lá, hoa của những cây cần sa còn lại mang về nhà, do trời mưa nên Đ treo lên dây và bỏ trên bao tải dưới mái hiên nhà để phơi khô. Đến ngày 09-9-2021, Công an huyện Đắk Glong phát hiện, thu giữ toàn bộ số cần sa Đ cất giữ trong nhà , đồng thời tiến hành kiểm tra, phát hiện trong rẫy của Đ đang trồng 147 cây cần sa.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ: Thân, cành, lá, hoa của cây thực vật (nghi là cần sa, thu giữ tại mái hiên trong nhà Đỗ Xuân Đ đã niêm phong); 147 cây thực vật (nghi là cây cần sa, trong đó có 33 cây có dấu vết bị cắt thân, lá, hoa, 114 cây còn nguyên vẹn; 01 cây kéo bằng kim loại.
Tại bản Kết luận giám định số 130/KLMT-PC09 và 15/KLMT-PC09 ngày 19/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Thân, cành, lá, hoa của cây thực vật đã khô héo đựng trong 01 túi nilon, màu xanh ký hiệu (1) được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu “Mẫu 1” gửi giám định là thân, cành, lá, hoa của cây cần sa; khối lượng 1366,6 gam.
- Thân, cành, lá, hoa của cây thực vật đã khô héo đựng trong 01 túi nilon, màu xanh ký hiệu (2) được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu “Mẫu 1” gửi giám định là thân, cành, lá, hoa của cây cần sa; khối lượng 690,0 gam.
Tổng khối lượng thân, cành, lá, hoa của cây thực vật trong 02 túi nilon được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu “Mẫu 1” là 2056,6 gam.
- 147 cây thực vật được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu “Mẫu 2” gửi giám định đều là cây cần sa.
Bản cáo trạng số 51/CTr-VKS ngày 19 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Đỗ Xuân Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 02 thùng giấy được niêm phong, ký hiệu “Mẫu 1” và “Mẫu 2” 01 cây kéo bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa màu cam, đen (có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21-11-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong).
Đối với hành vi trồng 147 cây cần sa, do chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Xuân Đ.
Đối với người đàn ông cho Đỗ Xuân Đ hạt giống do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Đỗ Thanh L và Nguyễn Thị Tuyết N (là con trai và con dâu của Đỗ Xuân Đ) không tham gia trồng, chăm sóc, thu hoạch, cất giữ cây cần sa cùng với Đ nên không có căn cứ xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý qua đó xác định: Đầu tháng 8/2021 đến ngày 09-9-2021, tại nhà của Đỗ Xuân Đ thuộc Bon T, xã Đ, huyện Đ, Đ đã tàng trữ trái phép 2056,6 gam thân, cành, lá hoa cây cần sa. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
Điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
d) ….lá, rễ, thân,cành,hoa, quả của cây cần sa…có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;”
…
[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của con người, là tiền đề tạo ra những hệ lụy xấu cho đời sống xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, do đó phải xử lý nghiêm trước pháp luật. Xét cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tự cải tạo, giáo dục đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa. Bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải, mục đích trồng để làm thức ăn chăn nuôi, không có mục đích gì khác, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, HĐXX xem xét quyết định mức hình phạt phù hợp để bị cáo có sơ hội sửa chữa, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5]. Xét quan điểm đại diện viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, tuy nhiên về áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự với lý do bị cáo là người cao tuổi, là lao động chính trong gia đình, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ bị cáo mới mất, hiện bị cáo ở một mình nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Đối với Đỗ Thanh L và Đỗ Thị Tuyết Nhung là con trai và con dâu của bị cáo, không tham gia trồng, chăm sóc, thu hoạch, cất giữ cây cần sa nên không có căn cứ xử lý.
Đối với người đàn ông cho Đ hạt giống cây cần sa, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
[8]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự : 02 thùng giấy được niêm phong, ký hiệu “Mẫu 1” và “Mẫu 2” 01 cây kéo bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa màu cam, đen (có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21-11-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong).
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân Đ 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 02 thùng giấy được niêm phong, ký hiệu “Mẫu 1” và “Mẫu 2” 01 cây kéo bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa màu cam, đen (có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21-11-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đỗ Xuân Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Glong; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Công an huyện Đắk Glong; - Bộ phận hồ sơ CA huyện Đắk Glong; - Chi cục THADS huyện Đắk Glong; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu . CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Phạm Đình Hưng |