- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đức Phong - MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng : Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 2…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 46/2021/HS-ST Ngày 22/7/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Nguyễn Hạ Tuấn, nguyên giáo viên, hiệu trưởng trường THCS;
Ông Đặng Viết Hùng, chánh thanh tra xây dựng huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội
- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Lành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 42/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo : ĐỖ ĐỨC P, sinh năm 1999, sinh quán và nơi cư trú : Thôn B, xã L, huyện U, thành phố Hà Nội; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo: Không. nghề nghiệp : Lao động tự do; trình độ học vấn : 9/12; con ông : Đỗ Tuấn K, sinh năm 1972; con bà : Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; vợ : Nguyễn Thị D, sinh năm 2000; con : Chưa có; tiền án, tiền sự : Không; bị cáo bị bắt quả tang hiện bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2021 tại trại tạm giam số 02 – Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
1. Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
1.1 Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1991; trú tại : Thôn T, xã V, huyện U, thành phố Hà Nội, vắng mặt;
1.2 Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 2000; trú tại : Thôn B,xã L, huyện U, thành phố Hà Nội, có mặt;
1.3 Ông Đỗ Tuấn K, sinh năm 1972; Thôn B, xã L, huyện U, thành phố Hà Nội, có mặt.
2. Ngƣời làm chứng : Anh Phạm Xuân T, sinh năm 1975; trú tại : Thôn B, xã L, huyện U, TP Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 07 giờ ngày 29/4/2021, Đỗ Đức P đi từ nhà mình ở thôn Bặt Chùa, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa đến khu vực Ba La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tìm mua được của một người đàn ông không quen biết được 12 đoạn ống hút bên trong chứa ma túy với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Phong đi về nhà. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 29/4/2021, Hoàng Văn T ở xã Vạn Thái, huyện Ứng Hòa gọi điện hỏi Phong mua ma túy, P đồng ý và hẹn T tại khu vực đường Quốc lộ 21B đoạn gần Cổng trào thuộc thôn Lương Xá, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa để giao dịch. Phong điều khiển xe mô tô chở theo vợ mình là Nguyễn Thị D nhưng không cho D biết là đi bán ma túy đi đến chỗ hẹn với Tuấn. Khi vừa bán ma túy cho T là 01 đoạn ống hút có chứa ma túy với giá 300.000 đồng, thì bị lực lượng Công an kiểm tra P chở vợ bỏ chạy, T cũng bỏ chạy (Trên đường bỏ chạy T đã vứt ma túy cùng điện thoại di động) Tổ công tác tiến hành truy đuổi và yêu cầu cả ba người trên quay lại vị trí ban đầu kiểm tra : Phong tự nguyện giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng là tiền vừa bán ma túy cho T. Ngoài ra P còn giao nộp 01 cuộn ni lông, bên ngoài quấn bằng băng dính màu đen, bên trong bọc bằng giấy bạc, mở ra có 11 đoạn ống hút đều có kích thước tương đương nhau 03x01cm, trong đó: 05 đoạn ống hút màu xanh lá cây, 04 đoạn ống hút màu hồng, 01 đoạn ống hút màu xanh dương, 01 đoạn ống hút màu cam. Bên trong mỗi đoạn ống hút đều có chứa tinh thể màu trắng, P trình bày đó là ma túy của P mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác đưa tất cả những người trên về trụ sở Công an huyện Ứng Hòa, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng gồm:
- 01 cuộn ni lông, bên ngoài quấn bằng băng dính màu đen, bên trong cuộn bằng giấy bạc, mở ra bên trong có 11 đoạn ống hút đều có kích thước tương đương nhau là 03x01cm, trong đó: 05 đoạn ống hút màu xanh lá cây, 04 đoạn ống hút màu hồng, 01 đoạn ống hút màu xanh dương, 01 đoạn ống hút màu cam. Bên trong mỗi đoạn ống hút đều có chứa tinh thể màu trắng;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen đã cũ, BKS: 29Y3 - 60.224;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note6 Pro màu đen đã cũ, loại màn hình cảm ứng, màm hình điện thoại có các vết nứt (Thu của Đỗ Đức P);
- 300.000 đồng, gồm 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng.
Cùng ngày 29/4/2021, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định số 99 đối với vật chứng thu giữ của Đỗ Đức P.Tại bản kết luận giám định số 3629/KLGĐ-PC09 ngày 05/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 11 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu (05 đoạn ống hút màu xanh lá cây, 04 đoạn ống hút màu hồng, 01 đoạn ống hút màu xanh dương, 01 đoạn ống hút màu cam) đều là ma túy loại Menthamphetamine, tổng khối lượng 2,229 gam”.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 39/CT - VKS ngày 18/6/2021 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị cáo Đỗ Đức Phong về tội : “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà :
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên;
- Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Đức P từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (29/4/2021); không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Về xử lý vật chứng : Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ do bán ma túy mà có; trả lại anh chị Nguyễn Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note6 Pro màu đen đã cũ, loại màn hình cảm ứng, màm hình điện thoại có các vết nứt (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 15/7/2021 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý). Về án phí : Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Đỗ Đức P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về tố tụng : Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên huyện Ứng Hòa đều đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo : Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung Bản cáo trạng mà Kiểm sát viên đã trình bầy nêu trên. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ được, bản kết luận giám định, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Trong đó có mười mua ma túy), người làm chứng cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận : Ngày 29/4/2021 tại Quốc lộ 21B thuộc thôn Lương Xá, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, Đỗ Đức Phong đã có hành vi bán cho ma túy Hoàng Văn T được đựng trong 01 đoạn ống hút với giá 300.000 đồng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Tại chỗ P giao nộp 11 đoạn ống hút bên trong chứa tinh thể màu trắng P khai nhận đó là ma túy tàng trữ mục đích để bán cho người khác kiếm lời. Kết quả giám định số ma túy trên có tổng khối lượng 2,229 gam ma túy Menthamphetamine.
Bằng hành vi mua ma túy tàng trữ với mục đích để bán kiếm lời như đã nêu trên của Đỗ Đức Phong, đối chiếu với quy định của pháp luật thì, bị cáo đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trong Bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác và làm gia tăng số người nghiện trên địa bàn. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo; phù hợp với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội (Phù hợp với số lượng ma túy thu giữ của bị cáo). Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt.
Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên Toà không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đối với nguồn gốc số ma túy: Tại cơ quan điều tra P khai nhận, ngày 29/4/2021 P mua của một người nam giới không quen biết, P không biết tên tuổi địa chỉ, người này khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m70, người gầy, mặt đen, việc mua bán ma túy diễn ra tại khu vực Ba La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, không có ai biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ làm rõ xử lý trong vụ án.
Đối với Hoàng Văn T là đối tượng nghiện ma túy, ngày 29/4/2021 T mua 01 đoạn ống hút ma túy của Đỗ Đức P với giá 300.000 đồng để sử dụng. Khi bị lực lượng Công an kiểm tra, T bỏ chạy và đã vứt số ma túy vừa mua, cùng điện thoại. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy. Do vậy, không đủ căn cứ để xử lý T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt khác, kết quả test nhanh nước tiểu của T dương tính với ma túy nên, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hòa đã có Công văn đề nghị Uỷ ban nhân dân xã Vạn Thái, huyện Ứng Hòa đề nghị đưa Hoàng Văn T vào giáo dục tại xã theo Nghị định 111/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ là có căn cứ.
Đối với chị Nguyễn Thị D và ông Đỗ Tuấn K (Bố, vợ bị cáo) : Ngày 29/4/2021 bị cáo sử dụng xe máy của ông K chở chị D, trên đường đi bị cáo P có hành vi bán ma túy nhưng ông K, chị D không biết về hành vi phạm tội của bị cáo nên không có lỗi, cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Xử lý vật chứng :
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen đã cũ, BKS: 29Y3 - 60.224 đã thu giữ của Đỗ Đức P. Quá trình điều tra làm rõ chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Tuấn K, bị cáo sử dụng xe đi bán ma túy ông K không biết nên không bị xử lý. Vì vậy ngày 08/6/2021, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hòa đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông K là có căn cứ;
- Số Ma túy sau khi giám định niêm phong gửi trả lại đây là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu huỷ;
- Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) thu giữ do bị cáo là tiền bán ma túy mà có cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note6 Pro màu đen đã cũ, loại màn hình cảm ứng thu giữ của bị cáo. Mặc dù điện thoại này do Tuấn gọi điện cho bị cáo để mua ma túy. Tuy nhiên bị cáo khai phù hợp với chị Nguyễn Thị D (Vợ bị cáo) là điện thoại nay của chị D cho bị cáo mượn việc bị cáo giao dịch bán ma túy chị D không biết. Nay chị D xin lại nên trả lại cho chi D sử dụng là phù hợp.
Về án phí, quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Bị cáo P phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng : Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1.Tuyên bố bị cáo : Đỗ Đức P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt : Xử phạt Đỗ Đức P 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/4/2021.
3. Về xử lý vật chứng :
- Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án : Số ma túy sau giám định gửi lại, đựng trong 01 (Một) phong bì được niêm phong đề Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện Ứng Hoà, mặt bên có chữ kỹ của giám định viên Trần Ngọc Chinh, cán bộ Nguyễn Trần Long Vũ, chữ ký của bị cáo Đỗ Đức Phong, dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo, tiền do phạm tội mà có;
- Trả lại chị Nguyễn Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note6 Pro màu đen đã cũ, loại màn hình cảm ứng.
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 157/2021 và chuyển tiền theo uỷ nhiệm chi đến Kho bạc Nhà nước huyện Ứng Hoà ngày 05/7/2021 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý).
4. Về án phí : Buộc bị cáo Đỗ Đức P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo : Bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo và người có mặt, kể từ ngày bản án được giao hợp lệ hoặc niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi thường trú đối với người vắng mặt./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND; Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục T.H.ADS huyện Ứng Hoà; - Bị cáo;người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Niêm yết tại UBND xã Vạn Thái, Ứng Hòa, Hà Nội; - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thành Trung |