vanban.org

Bản án 46/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Dế - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:46/2021/HS-ST
Ngày 29/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

__________________

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M , TỈNH T

Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Ngô Thị T

Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị H và Ông Lê Văn T .

Thư ký phiên toà: Ông Lâu Văn C , Thư ký - Tòa án nhân dân huyện M , tỉnh T .

Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Ông Phạm Viết T - Kiểm sát viên.

Ngày 29/12/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M , tỉnh T , xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2021/TLST-HS ngày 05/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:50/2021/QĐXXST-HS ngày 15/12/2021 đối với bị cáo:

Giàng A D ; sinh năm: 1969.Quê quán:Huyện Mường, tỉnh S ;

Nơi cư trú: Bản L , xã N , huyện M , tỉnh T .Dântộc: Mông; nghề nghiệp:Trồng trọt.Trình độ học vấn:Không biếtchữ.

Con ông:Giàng A T con bà:Hạng Thị X (Đều đã chết)Vợ: Mùa Thị D , sinh năm 1970.Có 07 người con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2005. Hiện tại, vợ và các con của bị cáo đang sinh sống tại: Bản L , xã N , huyện M , tỉnh T .

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/8/2021, chuyển tạm giam ngày 08/8/2021, giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M , tỉnh T đến nay, có mặt.

Người có QL&NVLQ: Chị Mùa Thị D , sinh năm 1970. Trú tại: Bản L , xã N , huyện M , tỉnh T .

Người phiên dịch: Lâu Văn Q ;Dân tộc: Mông; Trú tại: Bản P , xã P , huyện M , tỉnh T . Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:Ông Hà Văn K - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T . Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ ngày 02/8/2021 bị cáo điều khiển xe máy đi từ nhà xuống bản C , xã N , huyện M , mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại Quốc lộ 15C, bị cáo đã hỏi người này có ma túy không, bán cho một ít để sử dụng, người này đồng ý, bị cáo đưa 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), người đàn ông cầm tiền và đưa cho bị cáo 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong có chứa ma túy. Mua xong bị cáo cất vào túi quần sau bên phải rồi điều khiển xe máy đi về nhà, còn người này đi đâu, làm gì thì bị cáo không biết. Đi được một đoạn thì bị Tổ công tác Công an huyện M phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy ở túi quần bên phải bị cáo đang mặc.

Tại bản Kết luận giám định số: 2490/PC09,ngày 05/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

Cục bột khô màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,238g (không phẩy hai ba tám gam) loại: Heroin.

Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số:48/CT-VKS-ML ngày 04/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tranh luậnvà luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo khẳng định không ai xúi giục hay ép buộc nhận tội thay người khác; Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về điều luật: Áp dụng:Điều 38;đ iểm s khoản 1 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS;

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo từ 14 đến16 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tùtính từ ngày tạm giữ.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung và phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo làm trồng trọt, thu nhập thấp nên không có tính khả thi.

Về vật chứng:

- Tuyên tịch thu, tiêu hủy: Ma túy tang vật của vụ án là chất Nhà nước cấm lưu hành.

- Tuyên trả cho Mùa Thị D , sinh năm 1970 (là vợ bị cáo D ) xe máy nhãn hiệu: HONDA - WAVE ANPHA, biển kiểm soát: 36K1 - 005.10, màu sơn: Đen

- bạc, số máy: HC12E-2977871, số khung: 1209BY177857, đã qua sử dụngtheo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí HSST.

Ý kiến người bào chữa:Người bào chữa đồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo. Người bào chữa cho rằng: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng xử mức án thấp nhất, tạo điều kiện để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội, không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiếnbị cáo:Tại phiên tòa bị cáo khai, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy trái phép để sử dụng là vi phạm pháp luật và bị Nhà Nước nghiêm cấm nhưng do bản thân bị nghiện chất ma túy,không kiềm chế được bản thân nên đã cố tình phạm tội. Bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu là đúng,bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.Bị cáo đồng tình với lời bào chữa, không thay đổi, bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS.

Bị cáo nói lời sau cùng:Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xétmức án thấp nhất của khung hình phạt đểbị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M , Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; Tòa án nhân dân huyện M , Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa cho bị cáo và bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định:Bị cáo tàng trữ heroine có tổng khối lượng 0,238g (Không phẩy hai ba tám gam).Mục đích đem về sử dụng đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c Điều 249 Bộ luật hình sự Nước CHXHCN Việt Nam, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà Nước. Hiện nay ma túy đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội về tác hại của nó, ma tuý là nguyên nhân phát sinh ra những tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Với các tình tiết này HĐXX xem xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Xét về hình phạt:

Hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt cho bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội và khối lượng chất ma túy thu giữ, đã đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cho thấy bị cáo làm trồng trọt thu nhập không ổn định. HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung và phạt tiền đối với bị cáo.

Xét về vật chứng trong vụ án:

- Số ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước Việt Nam cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy.

- Xe mô tô hiệu HONDA, biển kiểm soát: 36K1-005.10, nhãn hiệu: WAVEANPHA, màu sơn: Đen - bạc, số máy: HC12E-2977871, số khung: 1209BY177857, đã qua sử dụng là tài sản của gia đình bị cáo làm phương tiện đi lại, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho Mùa Thị D , sinh năm 1970 là vợ bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Tang vật của vụ án hiện đang được bảo quản tại kho tang vật Chi cục THADS huyện M , tỉnh T .

Xét về phần án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thu nhập thấp và không ổn định nên miễn án phí HSST và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các nhận định khác:

Người đàn ông dân tộc Mông (theo lời khai của bị cáo) là người đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan CSĐT đã phối hợp với Công an xã N tiến hành xác minh, nhưng không xác định được người nào có đặc điểm nhận dạng như trên.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Về điều luật:

Căn cứ: Điểm c khoản1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106,Điều135, Điều 136,260;Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Về tội danh: Tuyên: Giàng A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xử bị cáoGiàng A D 14(Mười bốn)tháng tù

Thời hạn chấp hành hình phạt tù củabị cáo tính từ ngày tạm giữ (02/8/2021).

- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung chobị cáo.

Về tang vật:

- Tịch thu tiêu hủy:Phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành ghi vụ Giàng A D được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ , Trần Thị Thúy H , Bùi Văn V cùng các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T đóng giáp lai. Phong bì niêm phong còn nguyên vẹn.

- Trả cho chị Chị Mùa Thị D , sinh năm 1970. Trú tại: Bản Lốc Há, xã N , huyện M , tỉnh T .Xe mô tônhãn hiệuWAVE ANPHA, biển kiểm soát: 36K1-005.10, màu sơn: Đen - bạc, số máy: HC12E-2977871, số khung: 1209BY177857, đã qua sử dụng.

Vật chứng kể trên đang lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M , tỉnh T , theo Quyết định chuyển vật chứng số 39/QĐ-VKS-ML, ngày 04/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M , tỉnh T .Biên bản giao nhận vật chứng số:08/NK/2022 ngày05/11/2021 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M , tỉnh T .

Về án phí:Bị cáo được miễn tiền án phí HSST.

Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Án xử công khai; có mặt bị cáo; người bào chữa cho bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ