vanban.org

Bản án 46/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 17/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2021/HS-ST
Ngày 17/8/2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Lâm

Ông B i Tuấn Long

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa:

Ông Ngô Tiến D ng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2021 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn T; sinh ngày 27/6/1996 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị T; vợ, con chưa có; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2021 đến nay. Có mặt.

Người chứng kiến: 1. Anh Đinh Văn N, sinh năm 2001. Vắng măt.

2. Annh Đinh Tiến D, sinh năm 1999. Vắng mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ ngày 28 tháng 5 năm 2021, tổ công tác của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đang làm nhiệm vụ tại khu vực Trường mầm non, thuộc địa phận thôn M, xã H, huyện H thì phát hiện Nguyễn Văn T đang đi bộ, có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra, phát hiện trong túi quần trước bên phải T đang mặc có 01 túi ni lông màu đen, bên trong túi là một mảnh giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn, T khai nhận đó là chất ma túy vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ và niêm phong túi ni lông chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn trong 01 phong bì.

Tại Kết luận giám định số 1790/PC09 ngày 01 tháng 6 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,162g (không phẩy một sáu hai gam), loại Heroine.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai nhận vào khoảng 10 giờ ngày 28 tháng 5 năm 2021, T đi bộ đến khu vực ngã tư xã N, huyện H gặp một nam thanh niên khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m70, mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang, không biết tên và địa chỉ ở đâu, mua của người này 01 gói chất ma túy với giá 200.000 đồng để về sử dụng. Trên đường T đi về thì bị Tổ công tác của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H phát hiện, bắt giữ.

Cáo trạng số 52/CT-VKSHL ngày 28 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt t từ ngày 28/5/2021.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì; bị cáo nói lời nói sau c ng nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ph hợp với lời khai trong quá trình điều tra, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11h ngày 28/5/2021 tổ công tác Công an huyện H đang làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn M, xã H, huyện H thì phát hiện và bắt quả tang T đang tàng trữ trái phép ở túi quần quần trước bên phải một túi ni lông màu đen, bên trong túi là một mảnh giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn.

Tại Kết luận giám định số 1790/PC09 ngày 01 tháng 6 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,162g (không phẩy một sáu hai gam), loại Heroine.

Hành vi của Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện H và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với Nguyễn Văn T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu nơi cộng đồng dân cư, gây suy thoái về đạo đức, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của cộng đồng. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo mức hình phạt ph hợp với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung tệ nạn ma túy trong xã hội đang có chiều hướng gia tăng và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo.

. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của Nguyễn Văn T là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng t . Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28/5/2021).

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng số 36/CCTHA ngày 28/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ