vanban.org

Bản án 46/2021/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 14/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng ( VPB FC). Buộc bị đơn bà Dương Thị Trúc P phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng số tiền vốn, lãi là 32.941.049 đồng ( Ba mươi hai triệu, ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "T/C Hợp đồng tín dụng giữanguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng với bị đơn Dương Thị TRúc P"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật tố tụng dân sự thụ lý; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46 /2021/DS-ST
Ngày: 14/4/2021
Về việc: “T/C hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

Với thành phầm Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Công Ny

2. Bà Trần Thị Dung

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Đức – Thư ký Tòa án.

Vào ngày 14 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sở thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 39/2021/TLST-DS ngày 01/02/2021 về vụ án: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định hoãn phiên tòa số: 83 /2021/QĐST-XX, ngày 26 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một Thành Viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vƣợng.

Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà Ree Tower, số 9, Đoàn Văn Bơ, Phường 12, Quận 4, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Đại diện pháp luật: Ông Lô Bằng Giang – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Châu, sinh năm 1980

Người được ủy quyền lại: Bà Tô Thị Mộng Vàng, sinh năm: 1992

Bị đơn: Bà Dƣơng Thị Trúc P, sinh năm: 1989. (Vắng mặt)

Địa chỉ: 137/40B, đường Hoàng Văn Thụ, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đại diện nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (gọi tắt là VPB FC) có đại diện theo ủy quyền cho rằng: Vào ngày 24/12/2016, VPB FC có ký hợp đồng tín dụng số 20161224-0011693 với bà Dương Thị Trúc P để cho vay số tiền 33,697,672 đồng; Mục đích vay tiêu dùng; Thỏa thuận lãi suất 4,58%/tháng, thời hạn vay là 27 tháng, phương thức trả góp vốn, lãi hàng tháng, 26 tháng đầu mỗi tháng trả 2.201.000 đồng, tháng cuối trả 2.188.049 đồng, bắt đầu trả từ ngày 05/02/2017. Sau khi vay bà Phương đã thanh toán được 11 lần với tổng số tiền 26.473.000 đồng (Gồm vốn 10.251.699 đồng; Lãi 16.221.301 đồng), kể từ ngày 14/12/2017 bà Phương không tiêp tục thanh toán cho đến nay.

Nay yêu cầu bà Dương Thị Trúc P phải trả số nợ gốc 23.445.973 đồng đồng; khoản nợ lãi 9.495.076 đồng. Tổng cộng vốn, lãi là 32.941.049 đồng.

Đối với bị đơn bà Dương Thị Trúc P trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án xét xử, quyết định hoãn phiên tòa bằng phương thức tống đạt, niêm yết tại nơi cư trú, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do, nên không tiến hành thu thập được lời khai.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Nguyên đơn VPB FC có cung cấp thêm chứng cứ là Công văn số 1006/BĐVN.TTĐS của Tổng Công ty Bưu Điện Việt Nam về việc thể hiện chuyển tiền vay cho bà Dương Thị Trúc P nhận qua Bưu điện. Đông thời trình bày thêm bị đơn bà Dương Thị Trúc P thỏa thuận vay là 33.697.672 đồng, bao gồm tiền vay là 31.940.921 đồng, phí bảo hiểm là 1.756.751 đồng, nhưng ngân hàng cho bà Phương vay để trả phí bảo hiểm, nên tổng số tiền vay là 33.697.672 đồng và trừ khoản nợ trước bà Phương còn thiếu theo văn bản thỏa thuận ngày 24/12/2016 là 7.340.921 đồng, nên số tiền bà Phương thực nhận qua đường Bưu điện là 24.600.000 đồng. Sau khi vay bà Phương có trả được 11 lần được vốn, lãi là 26.473.000 đồng, trả lần sau cùng là ngày 14/12/2017.

Nay yêu cầu bà Dương Thị Trúc P phải trả vốn, lãi là 32.941.049 đồng, ngân hàng không yêu cầu trả lãi theo hợp đồng từ khi xét xử cho đến khi trả xong nợ, nhưng yêu cầu trả lãi suất chậm trả theo quy định của Bộ luật dân sự từ khi ngân hàng có đơn yêu cầu Thi hành án cho đến khi trả nợ xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1].Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về “ Hợp đồng tín dụng ” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Do bị đơn cư trú tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 36, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Đối với bị đơn bà Dương Thị Trúc P mặc dù đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Nên căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[2].Qua yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử, xét thấy :

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn mục đích vay là tiêu dùng, chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận và có đăng ký kinh doanh, nên khi phát sinh tranh chấp căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thụ lý vụ án dân sự để giải quyết. Tuy nhiên đây quan hệ vay nợ giữa ngân hàng với cá nhân, nên luật nội dung để giải quyết là Luật các tổ chức tín dụng, theo hướng dẫn tại Điều 4 Bộ luật dân sự 2015.

Qua yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: nguyên đơn VPB FC khởi kiện bà Dương Thị Trúc P về việc đòi nợ trong hợp đồng tín dụng đã cung cấp được bản sao Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng; Văn bản thỏa thuận mà hai bên đã ký kết; Công văn số 1006/BĐVN.TTĐS, ngày 19/3/2021 của Tổng Công ty Bưu điện kèm theo danh sách khách hàng nhận tiền vay; Bản sao CMND, sổ hộ khẩu mà bị đơn đã cung cấp cho VPB FC khi vay vốn. Mặc khác trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp về công khai chứng cứ và hòa giải về việc VPB FC khởi kiện đòi nợ bà Phượng với số nợ nêu trên, tại ngay địa chỉ mà bà Phương đã ghi khi ký kết hợp đồng được thể hiện trên sổ hộ khẩu, bà Phương và người thân thích có ký nhận, nhưng bà cũng không phản đối gì, nên đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó mặc dù không thu thập được lời khai của bà Dương Thị Trúc P, nhưng với những chứng cứ trên có đủ cơ sở xác định bà Dương Thị Trúc P có vay vốn tại VPB FC và chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ khi đến hạn, nên nay VPB FC khởi kiện yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ là có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu tính lãi trong hạn và mức lãi suất. Theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng có quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy căn cứ hợp đồng tín dụng các bên đều có thỏa thuận trong hợp đồng về mức lãi suất là 4,58%/tháng và tại phiên tòa hôm nay phía nguyên đơn cũng đã cung cấp bảng kê kế hoạch chi tiết khoản nợ, do đó việc yêu cầu lãi của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.

Cụ thể bà Dương Thị Trúc P phải có trách nhiệm trả như sau :

- Vốn : 23.445.973 đồng.

- Lãi : 9.495.076 đồng

- Tổng cộng vốn, lãi : 32.941.049 đồng.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa, về việc bị đơn phải có trách nhiệm trả lãi suất chậm trả theo quy định của Bộ luật dân sự ở giai đoạn thi hành án là phù hợp với Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên có căn cứ chấp nhận.

[3].Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 36, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Điều 91; 95; 98 Luật các tổ chức tín dụng.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng ( VPB FC).

- Buộc bị đơn bà Dương Thị Trúc P phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng số tiền vốn, lãi là 32.941.049 đồng ( Ba mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi mốt ngàn, không trăm bốn mươi chín đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn cho đến khi thi hành án xong. Nếu bị đơn chưa trả số tiền trên thì bị đơn còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Dương Thị Trúc P phải nộp: 32.941.049 đồng x 5% = 1.647.000 đồng (Một triệu, sáu trăm bốn mươi bảy ngàn đồng, tính tròn).

-Nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng được nhận lại tiền tạm ứng án phí 823.500 đồng ( Tám trăm hai mươi ba ngàn, năm trăm đồng) đã nộp theo phiếu thu số 003617 ngày 20/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhân được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ