vanban.org

Bản án 46/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh N:

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh N về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 0,952ha (từ năm 2011-2018) là 6.991.488đồng (Sáu triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, bốn trăm tám mươi tám đồng). Đình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản — án dân sự — "Phạm Minh N- Công ty Cổ phần cà phê T"
  • Tòa quyết gì? Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh N:
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Đất đai; Thông tư số 102/2006/TT-BNN Hướng dẫn một số điều của Nghị đ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2021/DS-ST
Ngày 09-3-2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng
giao khoán.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Dương Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Y Bhem Knul

2. Ông Nguyễn Đình Nghịch

- Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Lý, chức vụ: Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Vào ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 489 và 490/2020/TLST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2020 và Quyết định nhập vụ án số 15/2021/QĐST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng giao khoán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2021, giữa:

- Nguyên đơn:

1. Ông Phạm Minh N, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Minh N: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1976. - Có mặt

Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

2. Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hoàng Văn V: Bà Hoàng Thị Hồng S, sinh năm 1989. - Có mặt

Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà phê T).

Địa chỉ: Km 17, Quốc lộ 26, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoàng P, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T: Ông Phạm Đình B, sinh năm 1957. - Có đơn xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: 65 Trần Nhật D, phường Tân L, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk. (Theo văn bản ủy quyền số 307, 308/GUQ ngày 27 tháng 7 năm 2020).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh N, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Minh N là bà Hoàng Thị H trình bày:

Vào ngày 25 tháng 8 năm 2011, ông Phạm Minh N có 02 đơn xin hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên gửi Công ty TNHH MTV cà phê T (Nay là Công ty Cổ phần cà phê T) để nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê Vối trồng năm 1990 của Công ty có diện tích 2.100m2 và vườn cây cà phê Vối trồng năm 1988 của Công ty có diện tích 7.420m2. Đến ngày 28 tháng 8 năm 2011, thì giữa ông Phạm Minh N với Công ty đã ký với nhau 02 Hợp đồng theo hợp đồng số 663a/2011/HĐ-GK và hợp đồng số 663b/2011/HĐ-GK. Cụ thể: Hai bên đồng ý và thống nhất ký kết hợp đồng giao khoán vườn cây cà phê là:

- Đối với hợp đồng 663a/2011/HĐ-GK ngày 28/8/2011 thì: Ông Phạm Minh N nhận khoán vườn cây cà phê Vối của Công ty có diện tích 7.420m2, diện tích bờ lô 1.077m2. Địa điểm đất giao khoán thuộc đội N, thửa đất số 10a, tờ bản đồ số 19 địa chỉ thửa đất: thuộc xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nguyên giá vườn cây khi nhận khoán có giá là: 31.428.283đồng. Giá trị vườn cây còn lại: 17.794.627đồng. Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%, chủ hộ góp 49%. Thời hạn giao khoán là 04 năm, sau đó gia hạn đến niên vụ 2019, tính từ ngày ký kết hợp đồng. Hiện nay đối với hợp đồng này thì đã hết hạn hợp đồng với Công ty nhưng giữa hai bên chưa thanh lý, chấm dứt hợp đồng.

- Đối với hợp đồng 663b/2011/HĐ-GK ngày 28/8/2011 thì: Ông Phạm Minh N nhận khoán vườn cây cà phê Vối của Công ty có diện tích 2.100m2, diện tích bờ lô 305m2. Địa điểm đất giao khoán thuộc đội N, thửa đất số 10b, tờ bản đồ số 19 địa chỉ thửa đất: thuộc xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nguyên giá vườn cây khi nhận khoán có giá là: 9.481.199đồng; Giá trị vườn cây còn lại: 5.299.599đồng. Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%, chủ hộ góp 49%. Thời hạn giao khoán là 06 năm, sau đó gia hạn đến niên vụ 2022-2023, tính từ ngày ký kết hợp đồng.

Mức giao khoán hằng năm của cả hai hợp đồng mà ông Phạm Minh N phải nộp về Công ty thì được thực hiện theo thoả thuận trong các Hợp đồng giao khoán.

Kể từ khi nhận khoán vườn cây cho đến niên vụ cà phê 2017-2018, ông Phạm Minh N đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao nộp sản phẩm theo Hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký với Công ty. Tuy nhiên, đến năm 2018 thì ông N phát hiện Công ty có sự gian lận. Cụ thể: Ông N phát hiện Công ty đã gian lận chi phí nhân công cho diện tích 01ha của ông trong 07 năm (từ năm 2011 đến năm 2017); Công ty đã gian lận sản phẩm cà phê quả tươi làm thành cà phê quy nhân của ông cho diện tích 01ha trong 07 năm (từ năm 2011 đến năm 2017); Công ty đã gian lận tiền thủy lợi phí tiền thuê giếng tưới của ông cho diện tích 01ha (từ năm 2011 đến năm 2018) mà Công ty không trả cho ông phần 51% lẽ ra Công ty phải chịu. Do đó, ông Phạm Minh N đã khởi kiện Công ty đề nghị Tòa án xem xét giải quyết: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại chi phí đã gian lận trong tính toán chi phí nhân công của ông cho diện tích 01ha trong 07 năm (từ 2011-2017) là: 86.954.753,2đồng; Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại số cà phê quả tươi đã gian lận của ông cho diện tích 01ha trong 07 năm (từ 2011-2017) là: 24.304.000đồng; Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 01ha (từ năm 2011-2018) là 7.344.000đồng. Tổng cộng là: 118.602.753,2đồng (Một trăm mười tám triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, bảy trăm năm mươi ba phẩy hai đồng).

Theo đơn khởi kiện ông Phạm Minh N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tính cho diện tích 01ha. Tuy nhiên, sau khi xem xét lại 02 hợp đồng khoán gọn giữa ông N với Công ty thì tổng diện tích ông nhận khoán của 02 hợp đồng là 0,952ha (0,742ha + 01,21ha = 0,952ha). Vì vậy, ông Phạm Minh N xin rút một phần nội dung khởi kiện đối với tổng số tiền ông không yêu cầu Công ty trả lại và không yêu cầu Tòa án giải quyết là 111.611.265,2đồng (Một trăm mười một triệu, sáu trăm mười một nghìn, hai trăm sáu mươi lăm phẩy hai đồng) (bao gồm: chi phí nhân công cho diện tích 01ha (từ năm 2011-2017), cà phê tươi quy nhân cho diện tích 01ha (từ năm 2011-2017) và một phần tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích không có trong hợp đồng (từ năm 2011-2018)). Đối với số tiền còn lại 6.991.488đồng (Sáu triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, bốn trăm tám mươi tám đồng) là tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 0,952ha (từ năm 2011-2018) thì ông đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông. Ngoài ra ông N không có yêu cầu gì thêm.

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn V, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hoàng Văn V là bà Hoàng Thị Hồng S trình bày:

Vào ngày 25 tháng 8 năm 2011, ông Hoàng Văn V có đơn xin hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên gửi Công ty TNHH MTV cà phê T (Nay là Công ty Cổ phần cà phê T) để nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê Vối trồng năm 1984 của Công ty có diện tích 9.790m2. Đến ngày 28 tháng 8 năm 2011, thì giữa ông Hoàng Văn V với Công ty đã ký hợp đồng số 662/2011/HĐ-GK với nhau.

Theo hợp đồng 662/2011/HĐ-GK ngày 28/8/2011 thì: Ông Hoàng Văn V nhận khoán vườn cây cà phê Vối của Công ty có diện tích 9790m2, diện tích bờ lô 1.422m2. Địa điểm đất giao khoán thuộc đội N, thửa đất số 71, tờ bản đồ số 15 địa chỉ thửa đất: thuộc xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nguyên giá vườn cây khi nhận khoán có giá là: 49.364.672đồng. Giá trị vườn cây còn lại: 33.032.445đồng. Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%, chủ hộ góp 49%. Thời hạn giao khoán là 05 năm, sau đó gia hạn đến niên vụ 2020-2021, tính từ ngày ký kết hợp đồng. Mức giao khoán hằng năm ông V phải nộp về Công ty theo thoả thuận trong các Hợp đồng giao khoán.

Kể từ khi nhận khoán vườn cây cho đến niên vụ cà phê 2017-2018, ông Hoàng Văn V đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao nộp sản phẩm theo Hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký với Công ty. Tuy nhiên, đến năm 2018 thì ông V phát hiện Công ty có sự gian lận. Cụ thể: Ông V phát hiện Công ty đã gian lận chi phí nhân công cho diện tích 01ha của ông trong 07 năm (từ năm 2011 đến năm 2017); Công ty đã gian lận sản phẩm cà phê quả tươi làm thành cà phê quy nhân của ông cho diện tích 01ha trong 07 năm (từ năm 2011 đến năm 2017); Công ty đã gian lận tiền thủy lợi phí tiền thuê giếng tưới của ông cho diện tích 01ha (từ năm 2011 đến năm 2018) mà Công ty không trả cho ông phần 51% lẽ ra Công ty phải chịu. Do đó, ông Hoàng Văn V đã khởi kiện Công ty đề nghị Tòa án xem xét giải quyết: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại chi phí đã gian lận trong tính toán chi phí nhân công của ông cho diện tích 01ha trong 07 năm (từ 2011-2017) là: 86.954.753,2đồng; Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại số cà phê quả tươi đã gian lận của ông cho diện tích 01ha trong 07 năm (từ 2011-2017) là: 24.304.000đồng; Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 01ha (từ năm 2011-2018) là 7.344.000đồng. Tổng cộng là: 118.602.753,2đồng (Một trăm mười tám triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, bảy trăm năm mươi ba phẩy hai đồng).

Theo đơn khởi kiện ông V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tính cho diện tích 01ha. Tuy nhiên theo hợp đồng khoán gọn của ông V với Công ty thì diện tích nhận khoán là 0,979ha. Nên ông V rút một phần nội dung khởi kiện đối với tổng số tiền ông không yêu cầu Công ty trả lại và không yêu cầu Tòa án giải quyết là là 111.412.977,2đồng (Một trăm mười một triệu, bốn trăm mười hai nghìn, chín trăm bảy mươi bảy phẩy hai đồng) (bao gồm: chi phí nhân công cho diện tích 01ha (từ năm 2011-2017), cà phê tươi quy nhân cho diện tích 01ha (từ năm 2011-2017) và một phần tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích không có trong hợp đồng (từ năm 2011-2018)). Đối với số tiền còn lại 7.189.776đồng (Bảy triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, bảy trăm bảy mươi sáu đồng) là tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 0,979ha (từ năm 2011-2018) thì ông đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông. Ngoài ra ông V không có yêu cầu gì thêm.

* Quá trình làm việc tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà phê T), ông Phạm Đình B trình bày:

Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà phê T) thừa nhận là giữa Công ty với ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V có ký hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên với nhau. Cụ thể:

- Đối với ông Phạm Minh N: Vào ngày 28/8/2011, giữa ông Phạm Minh N với Công ty TNHH MTV cà phê T có ký với nhau 02 Hợp đồng khoán gọn. Cụ thể là hợp đồng số 663a/2011/HĐ-GK và hợp đồng số 663b/2011/HĐ-GK.

- Đối với ông Hoàng Văn V: Vào ngày 28/8/2011, giữa ông Hoàng Văn V với Công ty TNHH MTV cà phê T có ký với nhau Hợp đồng khoán gọn số 662/2011/HĐ-GK.

Quá trình thực hiện hợp đồng từ lúc nhận khoán cho đến niên vụ 2017-2018 thì diễn ra bình thường. Ông N, ông V nộp sản lượng đầy đủ cho Công ty, các vấn đề khác với Công ty thì các ông cũng đều thực hiện tốt. Tuy nhiên, đến niên vụ thu hoạch cà phê 2018-2019 và 2019-2020 thì các ông đã không thực hiện nghĩa vụ giao nộp sản phẩm cà phê quả tươi cho Công ty theo đúng cam kết trong Hợp đồng. Việc làm của các ông là vi phạm hợp đồng đã ký kết với Công ty. Tuy nhiên, Công ty chưa khởi kiện các ông về việc Buộc các ông phải trả sản lượng và một số khoản nợ khác cho Công ty. Nay ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V khởi kiện Công ty với nội dung yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết: “Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại chi phí đã gian lận trong tính toán chi phí nhân công của các ông cho diện tích 01ha trong 07 năm (từ năm 2011-2017) là: 86.954.753,2đồng/người; Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại số cà phê quả tươi đã gian lận của các ông cho diện tích 01ha trong 07 năm (từ năm 2011-2017) là: 24.304.000đồng/người; Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho các ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 01ha (từ năm 2011-2018) là 7.344.000đồng/người. Tổng cộng là 118.602.753,2đồng/người (Một trăm mười tám triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, bảy trăm năm mươi ba phẩy hai đồng).

Với nội dung yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V thì phía bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T hoàn toàn không đồng ý. Đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Lý do không đồng ý là vì: Giữa ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V với Công ty TNHH MTV cà phê T (Nay là Công ty Cổ phần cà phê T) đã ký hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên với nhau là dựa trên Bộ luật dân sự, Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ, Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13/11/2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Quyết định số 1399/QĐ-UBND ngày 08/6/2011 của UBND tỉnh Đắk Lắk, Nghị quyết hội nghị đại biểu người lao động ngày 26/3/2010, Biên bản họp mở rộng tham gia góp ý kiến phương án khoán gọn vườn cà phê ngày 10 tháng 02 năm 2011 và từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2010 của Công ty, Phương án khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên mà nòng cốt của phương án là trên cơ sở kế thừa và có sửa đổi “Phương án Hợp đồng hợp tác đầu tư & phân chia sản phẩm” mà Công ty đã thực hiện từ năm 1998 đến năm 2010. Việc ký hợp đồng giữa các ông với Công ty là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không bị lừa dối. Và trước khi ký hợp đồng thì có hội đồng xét duyệt đơn, sau đó Tổng giám đốc thay mặt Công ty ký hợp đồng với các ông theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã cho các đương sự làm bản tự khai và tiến hành đối chất, công khai chứng cứ và hoà giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, các đương sự không thống nhất được việc giải quyết vụ án. Do vậy, Tòa án tiến hành thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật và căn cứ Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự đưa vụ án ra xét xử.

Phần tranh luận tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Minh N tranh luận: Ông Phạm Minh N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 0,952ha (từ năm 2011-2018) là 6.991.488đồng (Sáu triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, bốn trăm tám mươi tám đồng).

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hoàng Văn V tranh luận: Ông Hoàng Văn V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 0,979ha (từ năm 2011-2018) là 7.189.776đồng (Bảy triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, bảy trăm bảy mươi sáu đồng).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 388, 390, 392, 412, 414, 501, 502, 503, 506 của Bộ luật dân sự năm 2005; Các Điều 7, 8, 9, 10, 12 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ; Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Luật đất đai năm 2003.

1. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh N:

- Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh N về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 0,952ha (từ năm 2011-2018) là 6.991.488đồng (Sáu triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, bốn trăm tám mươi tám đồng).

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh N về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông đối với tổng số tiền 111.611.265,2đồng (Một trăm mười một triệu, sáu trăm mười một nghìn, hai trăm sáu mươi lăm phẩy hai đồng).

Ông Phạm Minh N được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo quy định của pháp luật.

2. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn V:

- Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn V về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 0,979ha (từ năm 2011-2018) là 7.189.776đồng (Bảy triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, bảy trăm bảy mươi sáu đồng).

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn V về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông đối với tổng số tiền 111.412.977,2đồng (Một trăm mười một triệu, bốn trăm mười hai nghìn, chín trăm bảy mươi bảy phẩy hai đồng).

Ông Hoàng Văn V được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng giao khoán” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà phê T) có địa chỉ tại xã H, huyện K nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa, ông Phạm Đình B là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt.

Về nội dung:

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V đối với bị đơn Công ty Cổ phần cà phê T (Trước đây là Công ty TNHH MTV cà phê T). Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn cung cấp và được hai bên thừa nhận, thì thấy: Vào ngày 28 tháng 8 năm 2011, giữa ông Phạm Minh N với Công ty TNHH MTV cà phê T có ký kết với nhau 02 hợp đồng khoán gọn theo hợp đồng số 663a/2011/HĐ-GK và hợp đồng số 663b/2011/HĐ-GK; Giữa ông Hoàng Văn V với Công ty TNHH MTV cà phê T có ký kết với nhau hợp đồng khoán gọn số 662/2011/HĐ-GK với nhau.

Việc ký hợp đồng giữa các bên dựa trên đơn xin khoán gọn vườn cây cà phê của ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V gửi Công ty. Kể từ khi nhận khoán vườn cây cho đến niên vụ cà phê 2017-2018 thì ông N, ông V đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao nộp sản phẩm theo Hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký với Công ty.

Qua xem xét các Hợp đồng trên thì thấy: Đây là hợp đồng song vụ có thời hạn, khi thực hiện việc giao kết hợp đồng các bên đều hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, về nội dung cũng như hình thức của hợp đồng hai bên đã ký kết không vi phạm pháp luật nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Trong quá trình thực hiện hợp đồng giao khoán, ông Phạm Minh N và ông Hoàng Văn V đều đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao nộp sản phẩm theo Hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký kết với Công ty kể từ ngày ký cho đến hết niên vụ cà phê 2017-2018 và các bên không có tranh chấp gì. Và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn thừa nhận các nguyên đơn có ký Hợp đồng song vụ này. Do đó xác định đây là chứng cứ không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V về việc: “Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho các ông số tiền thủy lợi phí tiền thuê giếng tưới nước (từ năm 2011-2018). Cụ thể: Ông Phạm Minh N số tiền 6.991.488đồng/0,952ha, ông Hoàng Văn V số tiền là 7.189.776đồng/0,979ha”. Qua xem xét, Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ vào Bảng phương án khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên đã được UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt theo Quyết định số 1399/QĐ-UBND ngày 08/6/2011 và các hợp đồng mà ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V đã ký với Công ty thì thấy:

Tại Điều 1 của các hợp đồng có nêu: “1. Bên A khoán gọn vườn cây cà phê cho bên B trực tiếp đầu tư, chăm sóc, bảo vệ, thu hoạch và giao nộp sản phẩm cà phê”. Và tại Điều 2, Điều 3 của các Hợp đồng thì khi ký kết hợp đồng hai bên không đề cập đến thủy lợi phí là thuê giếng tưới. Các bên chỉ đề cập tới khấu hao hồ đập, kênh mương. Cụ thể: “Khi vào vụ tưới nước cho cà phê, Công ty mở nước cho bên B tưới với diện tích tưới mương. Diện tích tưới mương Công ty sẽ thu tiền khấu hao hồ đập kênh mương theo đơn giá quy định tại hội nghị người lao động hằng năm” (điểm c khoản 2 Điều 2 của hợp đồng) và “Đối với diện tích tưới nước trên hệ thống hồ đập, kênh mương của Công ty thì phải nộp tiền khấu hao hồ đập kênh mương cho bên A theo đơn giá quy định tại hội nghị người lao động hằng năm” (điểm h khoản 2 Điều 3 của hợp đồng). Đồng thời, tại trang 9, 10 Bảng phương án khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên đã được UBND tỉnh phê duyệt đã ghi rõ. Trường hợp các ông tưới nước từ kênh mương của Công ty thì phải trả lại tiền khấu hao kênh mương, thủy lợi cho Công ty phần 49% là 245.000đồng/ha/năm. Trong phần tính toán chi phí đầu tư để khấu trừ Công ty đã trả 255.000đồng/ha/năm (khấu hao kênh mương phần 51%) cho người nhận khoán. Mặt khác, theo Thông báo số 61/UB-VPUBND ngày 08/4/2019 của UBND tỉnh Đắk Lắk có nêu: “…việc đào giếng tưới và sử dụng giếng tưới cho vườn cây nhận khoán là của người dân, nhà nước không chi trả;”.

Mặt khác, tại thời điểm ký hợp đồng giữa ông N, ông V với Công ty thì các ông không có ý kiến gì với Công ty về việc tưới giếng đối với vườn cây nhận khoán. Và trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông N, ông V cũng hoàn toàn không có đơn gửi Công ty để đề nghị Công ty điều chỉnh lại hợp đồng do có một số vấn đề liên quan đến việc nhận khoán vườn cây không còn phù hợp với thực tế cụ thể là chi phí tưới giếng. Do đó không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

Từ những phân tích và nhận định như đã nêu trên. Căn cứ theo quy định tại các Điều 388, 390, 392, 412, 414, 501, 502, 503 và 506 của Bộ luật dân sự năm 2005 và các Điều 7, 8, 9, 10, 12 của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ quy định về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các Nông trường quốc doanh, Lâm trường quốc doanh; Luật đất đai năm 2003. Hội đồng xét xử thấy không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các nguyên đơn ông Phạm Minh N và ông Hoàng Văn V rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện. Cụ thể: Ông Phạm Minh N rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với tổng số tiền 111.611.265,2đồng; Ông Hoàng Văn V rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện đối với tổng số tiền 111.412.977,2đồng. Các nguyên đơn ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V không yêu cầu Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại và không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tổng số tiền mà các ông đã rút. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, 218, 219, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh N đối với tổng số tiền 111.611.265,2đồng (Một trăm mười một triệu, sáu trăm mười một nghìn, hai trăm sáu mươi lăm phẩy hai đồng); Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn V đối với tổng số tiền 111.412.977,2đồng (Một trăm mười một triệu, bốn trăm mười hai nghìn, chín trăm bảy mươi bảy phẩy hai đồng).

Ông Phạm Minh N, ông Hoàng Văn V được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 24, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh N không được chấp nhận nên ông Phạm Minh N phải chịu 349.574đồng (Ba trăm bốn mươi chín nghìn, năm trăm bảy mươi bốn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm (theo mức: 6.991.488đồng x 5% = 349.574đồng). Được khấu trừ vào số tiền 2.965.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Phạm Minh N đã nộp (do bà Hoàng Thị Hoài nộp thay) tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc theo biên lai thu số AA/2019/0014322 ngày 23/7/2020.

Ông Phạm Minh N được nhận lại số tiền 2.615.426đồng (Hai triệu, sáu trăm mười lăm nghìn, bốn trăm hai mươi sáu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.

- Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn V không được chấp nhận nên ông Hoàng Văn V phải chịu 359.488đồng (Ba trăm năm mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi tám đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm (theo mức: 7.189.776đồng x 5% = 359.488đồng). Tuy nhiên, căn cứ đơn xin miễn án phí của ông Hoàng Văn V và căn cứ vào Giấy chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 02 tháng 5 năm 2008, ông Hoàng Văn V sinh ngày 15-8-1959. Tính tới thời điểm hiện tại thì ông Hoàng Văn V đã trên 60 tuổi. Vì vậy, ông Hoàng Văn V được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Hoàng Văn V số tiền 2.965.000đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Hoàng Văn V đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0014330 ngày 24/7/2020 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 388, 390, 392, 412, 414, 501, 502, 503, 506 của Bộ luật dân sự năm 2005; Các Điều 7, 8, 9, 10, 12 của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Luật đất đai năm 2003.

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ vào Điều 2 Luật người cao tuổi;

Tuyên xử:

1. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Minh N:

- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh N về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 0,952ha (từ năm 2011-2018) là 6.991.488đồng (Sáu triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, bốn trăm tám mươi tám đồng).

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Minh N về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông đối với tổng số tiền 111.611.265,2 đồng (Một trăm mười một triệu, sáu trăm mười một nghìn, hai trăm sáu mươi lăm phẩy hai đồng).

Ông Phạm Minh N được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo quy định của pháp luật.

2. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn V:

- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn V về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông số tiền thủy lợi phí thuê giếng tưới nước cho diện tích 0,979ha (từ năm 2011-2018) là 7.189.776đồng (Bảy triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, bảy trăm bảy mươi sáu đồng).

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn V về việc: Buộc Công ty Cổ phần cà phê T phải trả lại cho ông đối với tổng số tiền 111.412.977,2 đồng (Một trăm mười một triệu, bốn trăm mười hai nghìn, chín trăm bảy mươi bảy phẩy hai đồng).

Ông Hoàng Văn V được quyền khởi kiện lại đối với số tiền trên theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

- Nguyên đơn ông Phạm Minh N phải chịu 349.574đồng (Ba trăm bốn mươi chín nghìn, năm trăm bảy mươi bốn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 2.965.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Phạm Minh N đã nộp (do bà Hoàng Thị Hoài nộp thay) tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc theo biên lai thu số AA/2019/0014322 ngày 23/7/2020.

Ông Phạm Minh N được nhận lại số tiền 2.615.426đồng (Hai triệu, sáu trăm mười lăm nghìn, bốn trăm hai mươi sáu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.

- Nguyên đơn ông Hoàng Văn V phải chịu 359.488đồng (Ba trăm năm mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi tám đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, căn cứ đơn xin miễn án phí của ông Hoàng Văn V và căn cứ vào Giấy chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 02 tháng 5 năm 2008, ông Hoàng Văn V sinh ngày 15-8-1959. Tính tới thời điểm hiện tại thì ông Hoàng Văn V đã trên 60 tuổi. Vì vậy, ông Hoàng Văn V được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Hoàng Văn V số tiền 2.965.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Hoàng Văn V đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0014330 ngày 24/7/2020 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ