- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HSST Ngày: 05/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bình Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Tranh
2. Ông Trần Xuân Lâm
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hoàng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh PT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh PT, tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố VT, tỉnh PT, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2020/HSST ngày 12/3/2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2020/QĐXXST-HS, ngày 21/4/2020, đối với bị cáo:
Hoàng Thị H, sinh ngày 26/8/1975; Giới tính: Nữ;
Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ 57A, khu 6C, phường NT, thành phố VT, tỉnh PT; Quốc tịch: VNam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Bán vé xổ số; Con ông: Hoàng Ngọc T (đã chết); Con bà: Ngô Thị T, sinh năm 1948; chồng : Nguyễn Minh T, sinh năm1969; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2020 đến ngày 12/01/2020, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 09/01/2020, tại khu 6C, phường NT, thành phố VT, tỉnh PT, tổ công tác đội Điều tra hình sự - Công an thành phố VT phát hiện, bắt quả tang Hoàng Thị H - sinh năm 1975, hộ khẩu thường trú: khu 6C, phường NT, thành phố VT, tỉnh PT, đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô cho Tạ Văn V- sinh năm 2000, hộ khẩu thường trú: Khu 5, xã Thanh Đình, thành phố VT, tỉnh PT và Đỗ Anh D - sinh năm 1979, hộ khẩu thường trú: Khu 11, phường Thanh Miếu, thành phố VT, tỉnh PT. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng gồm: thu giữ của H tiền VNam 5.600.000 đồng trong đó 5.200.000 đồng là tiền H vừa bán được số lô cho D và Việt, 400.000 đồng H khai nhận là tiền bán số lô cho người khác mà có; 04 tờ giấy kích thước 7x10cm có ghi các số lô trong đó 02 tờ cáp lô ghi các số lô bán cho D và Việt, 02 tờ cáp lô ghi các số lô H bán cho khách trước đó; 16 tờ giấy kích thước 7x10cm; 01 bút bi mực xanh; 01 mảnh giấy than, 03 ghế nhựa màu đỏ đã cũ, 01 bàn gỗ đã cũ. Thu giữ của Việt: 01 mảnh giấy có ghi các số lô 07, 70, 08, 80 và thu giữ của D: 01 mảnh giấy có ghi các số lô 02, 20, 25, 52, 30.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Thị H, Tạ Văn Việt, Đỗ Anh D đã khai báo về hành vi đánh bạc của mình như sau:
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 09/01/2020, Hoàng Thị H đang bán vé xổ số tại vỉa hè ven đường Đại lộ Hùng Vương trước cửa nhà số 2060 thuộc tổ 57A, khu 6C, phường NT, thành phố VT, tỉnh PT, thì Tạ Văn Vvà Đỗ Anh D đến đặt vấn đề hỏi mua số lô, H đồng ý bán số lô cho Vvà D. Vlà người mua trước các số lô: 07, 70, 08, 80 mỗi số lô 40 điểm, mỗi điểm lô H bán 20.000 đồng, tổng số điểm lô Vmua của H là 160 điểm, thành tiền bằng 3.200.000 đồng. H ghi các số lô Vmua vào 01 tờ giấy kích thước 7x10cm (gọi là cáp lô) đưa cho Việt, đồng thời sao lưu các số lô đó vào mảnh giấy khác qua giấy than H giữ lại để có căn cứ so sánh khi có kết quả xổ số miền Bắc, Vcầm cáp lô và đưa cho H 3.200.000 đồng. H cầm tiền của Vrồi tiếp tục bán số lô cho Đỗ Anh D, D mua các số lô 02, 20, 25, 52, 30 mỗi số lô 20 điểm, mỗi điểm 20.000 đồng, tổng số điểm lô D mua của H là 100 điểm, thành tiền bằng 2.000.000 đồng. H ghi các số lô D mua vào 01 tờ giấy kích thước 7x10cm (gọi là cáp lô) đưa cho D, đồng thời sao lưu các số lô đó vào mảnh giấy khác qua giấy than H giữ lại để có căn cứ so sánh khi có kết quả xổ số miền Bắc, D cầm cáp lô và đưa cho H 2.000.000 đồng, khi H vừa cầm số tiền 2.000.000 đồng D đưa thì bị cơ quan công an bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Hoàng Thị H còn khai nhận trước đó còn bán số lô cho 02 khách qua đường H không quen biết với tổng số tiền 400.000 đồng.
Hình thức đánh bạc của H với Vvà D là mua bán số lô. Cách thức trúng thưởng, phương thức thanh toán và tỉ lệ thắng thua như sau: nếu số lô của Vvà D mua của H trùng với 02 số cuối của tất cả các giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 15 phút cùng ngày, thì Vvà D thắng và được H trả tiền vào ngày hôm sau, số tiền trúng thưởng được tính là cứ đánh 1 điểm lô (tương đương 20.000đ) thì được 70.000đ. Nếu số lô của Vvà D mua không trúng thưởng thì Vvà D sẽ mất số tiền mua số lô của H nói trên. Toàn bộ tiền bán số lô cho khách trong ngày thì H sẽ giữ lại không chuyển cho ai và tự thanh toán cho khách nếu khách thắng, nếu khách thua thì H sẽ được hưởng lợi toàn bộ tiền khách mua số lô của H.
Hành vi đánh bạc của Hoàng Thị H bị phát hiện, bắt giữ, ngăn chặn trước khi có kết quả xổ số miền Bắc trong ngày nên số tiền phạm tội dùng vào việc đánh bạc được xác định là 5.600.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 52/CT-VKSVT ngày 11 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, truy tố bị cáo Hoàng Thị H về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội: “Đánh bạc”.
Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị H từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng, nộp ngân sách nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước gồm: Số tiền là 5.600.000đồng,
Tịch thu tiêu hủy: 16 mảnh giấy kích thước 7x10cm, 01 bút bi mực xanh; 01 mảnh giấy than; 03 chiếc ghế nhựa màu đỏ đã cũ; 01 chiếc bàn gỗ đã cũ.
* Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố VT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vật chứng cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/01/2020 tại vỉa hè ven đường Hùng Vương, thuộc tổ 57A, khu 6C, phường NT Hoàng Thị H đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô cho Tạ Văn Vvà Đỗ Anh D với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 5.200.000đ thì bị tổ công tác đội Điều tra hình sự - Công an thành phố VT bắt quả tang. Ngoài ra, Hoàng Thị H còn khai nhận trước đó còn bán số lô cho 02 khách qua đường H không quen biết với tổng số tiền là 400.000đ.
Hành vi của bị cáo Hoàng Thị H đã phạm vào tội: “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây mất trật tự trị an trong địa bàn thành phố mà trực tiếp là đến nếp sống văn minh của xã hội, hành vi đánh bạc là một tệ nạn xã hội gây hậu quả xấu cần tích cực phòng ngừa, ngăn chặn. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện để nhận thức pháp luật, để nhận biết hành vi đánh bạc trái phép là hành vi vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do vậy cần phải xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt hình phạt tiền dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ để giáo dục bị cáo và để cho bị cáo được sửa chữa lỗi lầm và thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có tài sản là 01 ngôi nhà 02 tầng, diện tích 60m2 nhưng đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, bị cáo lại không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và đã xử phạt hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với Tạ Văn Vvà Đỗ Anh D là người thực hiện hành vi đánh bạc với Hoàng Thị H nhưng số tiền Vvà D sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000đ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bị bắt trước khi có kết quả xổ số miền Bắc trong ngày. Bản thân Vvà D chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa có tiền án về tội “Đánh bạc” hoặc tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên Công an thành phố VT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vvà D theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là phù hợp.
Đối với 02 khách mua 400.000đ số lô của Hoàng Thị H trước khi bị bắt quả tang, do H không biết rõ địa chỉ, tên tuổi cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 5.600.000đ đây là số tiền do phạm tội mà có cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
- Đối với 16 mảnh giấy kích thước 7x10cm, 01 bút bi mực xanh; 01 mảnh giấy than; 03 chiếc ghế nhựa màu đỏ đã cũ; 01 chiếc bàn gỗ đã cũ. Đây là công cụ sử dụng vào mục đích đánh bạc không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị H 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Số tiền là 5.600.000đồng (Năm triệu, sáu trăm nghìn đồng).
(Theo biên lai thu tiền số AA/2018/0000441 ngày 12/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VT, tỉnh PT).
Tịch thu tiêu hủy: 16 mảnh giấy kích thước 7x10cm, 01 bút bi mực xanh; 01 mảnh giấy than; 03 chiếc ghế nhựa màu đỏ đã cũ; 01 chiếc bàn gỗ đã cũ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố VT).
* Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Thị H phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh PT; - VKSND tỉnh PT; - VKSND TPVT; - Công an TP VT; - Sở Tư pháp tỉnh PT; - Chi cục THA TPVT; - UBND phường NT; - Bị cáo; - Lưu HS, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bình Luyến |