- Tranh chấp gì? án hình sự — "Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số bản án: 46/2020/HSST Ngày: 12/5/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đông
2. Bà Lê Cẩm Huỳnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Minh thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2020/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M – Sinh năm: 1981;
Nơi cư trú: Khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Nguyễn Văn A – sinh năm: 1943 (sống) và bà: Trần Thị B – sinh năm: 1942 (sống); Vợ: Nguyễn Thị Thanh T– sinh năm: 1988 (đã bỏ đi); Con: Có 02 người (Lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010); Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 14/4/2019, bị Công an quận Thốt Nốt xử phạt 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc, nộp phạt ngày 21/4/2019; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường B, quận Thốt Nốt từ ngày 17/02/2020.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị P - sinh năm: 1971 (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 30/01/2020, Nguyễn Văn M đến quán cà phê của bà Bảy Móc gần nhà để uống nước, trong lúc uống thì M thấy kế bên quán có Nguyễn Thị P đang chơi đánh bài cào ba lá ăn thua bằng tiền cùng với hai người nam khoảng 13 đến 14 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) nên M đi qua tham gia chơi cùng. Hình thức đánh bạc là chơi bài cào 03 lá, 01 người làm cái ăn thua trực tiếp với những người đặt tụ, P và M thay phiên nhau làm cái ăn thua trực tiếp với người đặt, mỗi tụ đặt cược từ 5.000đồng đến 10.000đồng. Người làm cái chia cho tất cả những người chơi mỗi người 3 lá bài, người chơi cộng điểm 3 lá bài lại nếu lớn hơn nhà cái thì thắng, nhỏ hơn thì thua, bằng điểm với nhà cái thì hòa nhau. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an phường B phát hiện bắt quả tang, cùng tang vật.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng;
- 01 chiếc chiếu đã qua sử dụng;
- Tiền Việt Nam là 1.910.000đồng (trong đó: thu của P 93.000đồng, thu tại chiếu bạc 30.000đồng, thu của M là 1.787.000đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 1.083.000đồng (trong đó: Nguyễn Thị P đem theo 53.000đồng để đánh bạc; Nguyễn Văn M đem theo 2.000.000đồng dùng để đánh bạc 1.000.000đồng và thu giữ tại chiếu bạc 30.000đồng).
Tại cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 17/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thống nhất với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa cơ bản vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố và xác định số tiền chứng minh dùng vào việc đánh bạc tổng cộng là 1.083.000đồng, đồng thời đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên xử: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội“Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do nghề nghiệp không ổn định.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ bài Tây loại 52 lá;
- Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền tang vật dùng để đánh bạc là 910.000đồng (trong đó: thu tại chiếu bạc 30.000đồng; thu trên người M 787.000đồng, trên người P 93.000đồng).
- Đề nghị trả lại cho bị cáo M số tiền 1.000.000đồng do không liên quan đến việc đánh bạc.
Đối với hành vi tham gia đánh bạc của Nguyễn Thị P chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Riêng đối với 02 người thanh niên khoảng 13 đến 14 tuổi do chưa xác định được nhân thân và địa chỉ cụ thể nên chưa tiến hành làm việc được. Cơ quan điều tra Công an quận Thốt Nốt tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ xem xét xử lý sau.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi và ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHÂÂN ĐỊNH CỦA HÔÂI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nô ôi dung vụ án, căn cứ vào các tài liê ôu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ôn tại phiên tòa, Hô ôi đồng xét xử nhâ ôn thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quâ ôn Thốt Nốt, Điều tra viên, Viê ôn kiểm sát nhân dân quâ ôn Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiê ôn đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bô ô luâ ôt Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiê ôn hợp pháp.
[2] Trong điều tra và qua thẩm tra, đối chất tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo cơ bản phù hợp nhau, phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, v.v…
Như vậy, có cơ sở xác định vào khoảng 13 giờ ngày 30/01/2020, Nguyễn Văn M và Nguyễn Thị P có hành vi đánh bài cào ba lá ăn thua bằng tiền cùng với hai người khác (không rõ họ tên, địa chỉ). Tổng số tiền chứng minh bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan dùng để đánh bạc là 1.083.000đồng. Tuy tổng số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vì Nguyễn Văn M đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc nên hành vi của bị cáo M thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, an ninh xã hội. Đánh bài cào 3 lá ăn thua bằng tiền là hình thức đánh bạc bị Nhà nước nghiêm cấm, hơn nữa tác hại của việc đánh bạc là rất lớn, không chỉ dừng lại ở việc ăn thua bằng tiền với nhau mà có không ít người do ham mê cờ bạc dẫn đến nợ nần túng quẩn, gây đổ vỡ hạnh phúc gia đình và nghiêm trọng hơn là dấn thân vào con đường phạm tội khác…
Xét bản thân bị cáo Nguyễn Văn M có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật về hành vi của mình, cũng biết rõ hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo ham mê cờ bạc, vì động cơ hám lợi nên đã cùng những người khác tham gia đánh bạc. Ngày 14/4/2019, bị cáo bị Công an quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt vào ngày 24/4/2019) bị cáo chưa được xóa tiền sự nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Hình phạt dành cho bị cáo phải tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Song, khi lượng hình xét thấy trong điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn trong khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đang lao động trực tiếp nuôi mẹ già và con nhỏ, hiện tại điều kiện hoàn cảnh bị cáo đang gặp khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) vì vậy Hội đồng xét xử nghĩ nên áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát là có cơ sở.
[3] Về hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh khó khăn.
[4] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Theo như nhận định và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Đánh bạc”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ bài Tây 52 lá; Chiếc chiếu đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền tang vật dùng để đánh bạc là 910.000đ (Chín trăm mười ngàn đồng) (trong đó: thu tại chiếu bạc 30.000đồng; thu trên người Nguyễn Văn M 787.000đồng, trên người Nguyễn Thị P 93.000đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội .
Bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.
Riêng đối với 02 người thanh niên khoảng 13 đến 14 tuổi do chưa xác định được nhân thân và địa chỉ cụ thể chưa tiến hành làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ xem xét xử lý sau.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Tp. Cần Thơ; - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ; - VKSND quận Thốt Nốt; - Cơ quan CSĐT CA quâ ôn Thốt Nốt; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Nhà tạm giữ CA quâ ôn Thốt Nốt; - Chi cục THADS quâ ôn Thốt Nốt; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Ngọc Hạnh |