- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quý C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HSST Ngày: 29/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Quang;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tú và bà Vũ Thị Kim Thanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đắc Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Nam Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 29/4/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2020/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2020/HSST ngày 15 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Đỗ Quý C, sinh năm 1995; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Số 26/176 Phan Đình Phùng, phường Phan Đình Phùng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số 11/161 Phan Đình Phùng, phường Phan Đình Phùng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: (không xác định được); con bà: Đỗ Thị Thanh H, sinh năm 1963; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/10/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1989 (đã chết); Người đại diện hợp pháp của anh T : Ông Đỗ Kiên Q, sinh năm 1963, trú tại Tổ dân phố Nam, thị trấn Liễu Đề, huyện Nghĩa Hưng, thành phố Nam Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/6/2019, Đỗ Quý C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS 20M7-6698 đi trên đường Tông Quang Phiệt trong khu đô thị Nam C , thuộc phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo hướng tổ dân phố Hoàng 8, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đi đường Phạm Văn Đồng. Khi đến khu vực trước số nhà 7/645 Phạm Văn Đồng (số nhà cũ) C điều khiển xe phía sau chở anh Vũ Đình T lấn làn đường dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 20L6-4544 do anh Đỗ Văn T điểu khiển khi nồng độ cồn trong máu của anh T là 25,3mmol/l. Hậu quả anh Đỗ Văn T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện 198 Bộ Công an đến ngày 02/7/2019, gia đình xin bệnh viện đưa anh T về nhà, đến 20 giờ 45 phút cùng ngày anh T chết tại gia đình.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển số 20L6-4544 số máy và số khung bị tẩy xóa. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển số 20M7- 6698, số máy 1438733, số khung 237831.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:
Lấy mép đường bên phải theo chiều từ Phạm Văn Đồng đi hướng TDP Hoàng 8 làm mép đường chuẩn.
Lấy mép đường bên phải lối vào số nhà 7/643 Phạm Văn Đồng làm điểm khóa chốt hiện trường.
- Vị trí số (1) (xe mô tô BKS: 20L6-4544) được xác định đi theo chiều từ Phạm Văn Đồng đi hướng TDP Hoàng 8, đuôi xe hướng Phạm Văn Đồng. Tại vị trí xe dừng sau tai nạn xe đổ nghiêng bên trái, đầu xe hướng TDP Hoàng 8, đuôi xe hướng Phạm Văn Đồng. Tâm đầu trục bánh trước của xe cách mép đường chuẩn 6m05, tâm đầu trục bánh sau của xe cách mép đường chuẩn 5m84.
- Vị trí số (2) (xe mô tô BKS: 20M7- 6698) tại vị trí xe dừng sau tai nạn đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn, đầu xe hướng sang vỉa hè phía đối diện. Tâm đầu trục bánh trước của xe cách mép đường chuẩn 5m40, tâm đầu trục bánh sau của xe cách mép đường chuẩn 4m40.
- Vị trí số (3) (vết rê và cà trượt dài: 3m70) điểm đầu của dấu vết cách mép đường chuẩn 5m00, điểm cuối của dấu vết trùng với bàn để chân người điều khiển phía bên trái.
- Vị trí số (4) (vùng máu nạn nhân có kích thước: 1m30x1m00) điểm gần nhất của vùng máu cách mép đường chuẩn 6m82, điểm gần nhất vùng máu cách tâm trục bánh sau xe mô tô BKS: 20L6-4544 đo được 0m55.
- Vị trí số (5) (vùng mảnh vỡ KT: 4m30x3m30) vùng mảnh vỡ nằm rải rác xung quanh 02 xe mô tô BKS: 20L6-4544, BKS: 20M7-6698. Điểm gần nhất vùng mảnh vỡ cách mép đường chuẩn 3m90.
- Khoảng cách 02 xe: tâm đầu trục bánh trước xe mô tô BKS 20M7-6698 cách tâm đầu trục bánh trước xe mô tô BKS 20L6-4544 là 0m58.
- Khóa chốt hiện trường: được xác định là từ tâm đầu trục bánh trước xe mô tô BKS 20L6-4544 trùng với lối vào nhà bên phải số nhà 7/643 Phạm Văn Đồng.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tại nạn giao thông xác định như sau:
- Xe mô tô BKS 20L6-4544, số khung số máy bị tẩy xóa;
- Mặt ngoài ốp nhựa chắn bùn trước bên phải có vết trượt xước sạch bụi đất, vết có chiều từ trước về sau, kích thước 14x3cm, điểm thấp nhất cách đất 57cm.
- Mặt ngoài ốp nhựa phía ngoài bảo vệ cụm đèn chiếu sáng trước bên phải có vết tỳ làm vỡ nút ốp nhựa, vết có chiều từ trước về sau kích thước 28x10cm. Điểm thấp nhất cách đất 93cm.
- Mặt ngoài ốp kim loại phía đầu ống xả có vết tỳ trượt làm móp méo ốp kim loại, vết có chiều từ trước về sau, kích thước 6x3cm, điểm thấp nhất cách đất 15cm.
- Mặt ngoài ốp kim loại bảo vệ máy bên phải có vết tỳ làm vỡ ốp kim loại, chiều hướng từ trước về sau, kích thước 11x10cm, điểm thấp nhất cách đất 21cm.
- Thiệt hại: vỡ toàn bộ ốp nhựa cách yếm chắn gió, vỡ ốp nhựa chắn bùn trước bên trái, vỡ ốp nhựa đèn chiếu sáng trước bên phải, vỡ ốp nhựa càng giảm xóc trước bên phải, vỡ nắp đậy máy, vỡ trong ốp nhựa sườn xe, vỡ thanh kim loại tản nhiệt bên phải, vỡ bầu lọc gió, vỡ mặt nạ phía trước.
Khám nghiệm xe mô tô BKS 20M7-6698, số máy: 1438733, số khung: 237831 kết quả như sau:
- Mặt ốp nhựa chắn bùn trước có vết trượt xước, trên bề mặt còn bám dính chất màu xanh, chiều hướng từ trước về sau, kích thước trên diện 42x42cm.
- Mặt ngoài mép vành trước có vết tù làm móp méo, chiều hướng từ mặt lăn vào tâm trục, kích thước 26x5,5cm. Điểm gần nhất cách chân van trên một đường dây cung 32cm.
- Mặt ngoài may ơ trước có vết tỳ trượt xước kim loại làm cong gập nan hoa, vết có chiều từ mặt lăn vào tâm trục, kích thước trên diện 13x45cm.
- Mặt ngoài mặt nạ trước có vết tỳ làm trượt xước, trên bề mặt còn bám dính chất màu xanh kích thước 11x18cm.
Do xe bị móp méo vành bánh trước, cong lệch càng giảm xóc trước nên không tiến hành đo được điểm thấp nhất cách đất của các dấu vết trên.
- Thiệt hại: móp méo vành, long rời xăm, lốp, gãy nan hoa, cong lệch càng, vỡ yếm chắn gió bên trái, vỡ mặt nạ trước, vỡ ốp nhựa bắt đỡ vùng đèn chiếu sáng trước, vỡ ốp nhựa cánh yếm chắn gió trước bên phải.
Kết luận giám định số 3995 ngày 06/8/2019 kết luận:
- Dấu vết trượt xước, gãy vỡ ở lốp bảo vệ lốc máy bên phải và lốc máy bên phải xe mô tô biển số 20L6-4544 có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại ở mặt ngoài may ơ vành bánh trước và dấu vết biến dạng nan hoa vành bánh trước xe mô tô biển số 20M7-6698. Dấu vết va chạm ở xe mô tô biển số 20M7-6698 tại vị trí này có chiều từ mặt lăn vào tâm trục bánh xe.
- Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài đầu tay nắm bên trái, mặt ngoài bên trái đầu cung trước chắn bùn bánh trước xe mô tô biển số 20L6-4544 có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường (khi xe mô tô biển số 20L6-4544 đã đổ nghiêng bên trái trên mặt đường).
- Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài đầu tay nắm bên trái, mặt ngoài ốp nhựa đèn xin đường trước bên trái xe mô tô biển số 20M7-6698 có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường (khi xe mô tô biển số 20M7-6698 đã đổ nghiêng bên trái trên mặt đường).
Khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi kết quả như sau:
Khám ngoài:
- Đầu - mặt: Phù nề, bầm tím da sau vành tai phải KT 9x4,5cm; Phù nề vùng đỉnh hai bên; Hai lỗ tai có dính máu khô; Hai lỗ mũi khô; Miệng có dịch chảy ra khi thay đổi tư thế.
- Cổ vững, ngực vững; bầm tím da 1/3 mặt trong, xương đòn phải kích thước 5x2cm (dấu vết nẹp cổ định cổ); bầm tím da mạm sườn phải kích thước 1x1 cm.
- Tay phải: Bầm tím da mặt trước 1/3 trên cánh tay phải kích thước 8x4cm. Bầm tím da mặt trước 1/3 dưới cánh tay kích thước 10x6cm. Xây xát da mặt sau khuỷu tay kích thước 0,5x0,5cm. Xây xát bầm tím da ngón IV kích thước 4x1 cm. Sờ nắn không thấy gãy xương.
- Tay trái: Bầm tím da mặt trước 1/3 trên cánh tay kích thước 7x3cm. Bầm tím da mặt trước khuỷu tay kích thước 1x1cm. Bầm tím da mu bàn tay kích thước 4x3cm trên vết bầm tím da này có vết thủng da kích thước 0,lx0,lcm (dạng dấu vết kim tiêm). Sờ nắn không thấy gãy xương.
- Khung chậu vững, bộ phận sinh dục ngoài bình thường.
- Chân phải: Bầm tím da mặt trong đùi kích thước l,5xl,5cm. Xây xát da mặt trong dối kích thước 3x1 cm. Sờ nắn không thấy gãy xương.
- Chân trái: Bầm tím da mặt trong đùi kích thước 3x1 cm. Xây xát da mặt ngoài gối kích thước 2,5x2cm. Xây xát da mặt trước cẳng chân kích thước lx2cm. Sờ nắn không thấy gãy xương.
- Bầm tím da vai hai bên và vùng lưng kích thước 25x1 cm (dạng dấu vết dụng cụ cố định cổ).
Ngoài các dấu vết đã mô tả trên không phát hiện thương tích nào khác.
Mổ tử thi:
- Phần đầu: Bầm tím tổ chức dưới da vùng trán thái dương đỉnh phải và đỉnh chẩm phải. Chảy máu lan tỏa màng mềm bán cầu đại não hai bên. Tụ máu đáy não. Não giảm trương lực. Dập não, tiểu não. Vỡ cánh lớn xương bướm phải. Vỡ xương chẩm phải.
- Phần ngực - bụng: Không mổ do gia đình cương quyết từ chối và ngăn cản nên không thể tiến hành pháp y phần ngực - bụng.
Kết luận giám định pháp y tử thi số 503 ngày 11/7/2019 kết luận: Các dấu hiệu chính qua giám định: Vùng thái dương, đỉnh, chẩm phải bị va đập vào vật tày với lực tác động mạnh gây: Chảy máu lan tỏa màng mềm bán cầu đại não hai bên; tụ máu đáy não; não giảm trương lực; dập não, dập tiểu não; mất liên tục cấu trúc mô học của não, tiểu não; vỡ cánh lớn xương bướm phải; vỡ xương chẩm phải. Nguyên nhân chết: Nạn nhân Đỗ Văn T, tử vong do chấn thương sọ não rất nặng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển số 20M7-6698, số máy: 1438733, số khung: 23783 qua xác minh xác định đăng ký xe mang tên Nguyễn Xuân H (sinh năm 1953; HKTT: 13 Trương Vương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên), xác minh xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Anh L khai mua chiếc xe trên để dử dụng, đến ngày 30/6/2019, anh L giao cho Đỗ Quý C mượn xe, sau đó xảy ra tai nạn giao thông. Khi cho C mượn xe anh L không biết việc C không có giấy phép lái xe mô tô. Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe máy trên cho anh L.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 20L6-4544 số khung, số máy bị tẩy xóa không xác định được số nguyên thủy, do anh Đỗ Văn T đã chết nên không xác định được nguồn gốc xe.
Gia đình Đỗ Quý C đã bồi thường cho gia đình anh Đỗ Văn T số tiền 70.000.000 đồng. Gia đình anh T đã nhận và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKSBTL ngày 14 tháng 02 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Đỗ Quý C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định truy tố của bản cáo trạng. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 3 năm 6 tháng tù, không phạt bổ sung; đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy Honda Wave, màu xanh, BKS: 20L6- 4544; trách nhiệm dân sự: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ản hiện trường, kết luận giám định dấu vết để lại trên phương tiện và hiện trường; kết luận giám định pháp y về thương tích, nguyên nhân chết của anh Đỗ Văn T, vật chứng được thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/6/2019, Đỗ Quý C không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20M7-6698 đi trên đường Tông Quang Phiệt trong khu đô thị Nam C , thuộc phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo hướng từ tổ dân phố Hoàng 8, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đi đường Phạm Văn Đồng. Khi đến khu vực trước số nhà 7/645 Phạm Văn Đồng (số nhà cũ) C điều khiển xe đi không đúng phần đường nên đã va chạm với xe mô tô BKS: 20L6-4544 do anh Đỗ Văn T điều khiển làm anh T tử vong.
Đỗ Quý C điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ khi không có giấy phép lái xe theo quy định, đi không đúng phần đường làm chết người đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ theo khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng và tính mạng của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên cũng xem xét, bị hại tham gia giao thông khi nồng độ cồn trong máu là 25,3mmol/l nên bị hại có lỗi một phần. Còn bị cáo tham gia giao thông không có giấy phép lái xe nên không làm chủ được tình huống khi gặp chướng ngại vật và gây chết người, do vậy lỗi phần lớn thuộc về bị cáo. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tích chất, mức độ phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại, được gia đình người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại 70.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 20L6- 4544 số khung, số máy bị tẩy xóa không xác định được số nguyên thủy, quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quý C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Quý C 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/10/2019.
Xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 20L6- 4544 số khung, số máy bị tẩy xóa không xác định được số nguyên thủy.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 91/20 ngày 18/02/2020 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).
Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. .
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND Q. Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Q. Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Lưu HS – VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Văn Quang |