vanban.org

Bản án 46/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 01/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 01/9/2020. 3. Giao bị cáo Đoàn Văn T cho Ủ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/HSPT
Ngày 01 tháng 9 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Anh và bà Lương Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2020/HSPT ngày 05 tháng 8 năm 2020 do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 59/2020/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo có kháng cáo: Đoàn Văn T, sinh ngày 20/10/1991; giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đoàn Văn T3 và bà Đoàn Thị L; vợ là Nguyễn Thị T4, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27/3/2020 đến ngày 30/3/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Các bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị: Nguyễn Văn T1, Nguyễn Quang M, Nguyễn Văn T2 và Trần Văn B không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 26/3/2020, bị cáo Đoàn Văn T cùng với các bị cáo Nguyễn Văn T2, Trần Văn B và Nguyễn Quang M ngồi chơi tại nhà của Nguyễn Văn T1 tại thôn T, xã C (trước đây là xã Q), huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau đó, bị cáo T nhìn thấy bộ bài tú lơ khơ 52 lá ở dưới gầm bàn nước nhà bị cáo T1 nên rủ mọi người đánh “liêng” thắng, thua bằng tiền. Tất cả đồng ý, bị cáo T1 đưa cả nhóm lên phòng trên tầng 2 nhà T1 để đánh bạc. Sau khi thống nhất luật chơi, bị cáo T là người chia ván bạc đầu tiên và đánh bạc đến khoảng 21 giờ 45 phút, thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, số tiền 5.580.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ số tiền 10.820.000 đồng trên người các bị cáo, trong đó Nguyễn Văn T1 1.110.000 đồng, Đoàn Văn T 9.700.000 đồng và Nguyễn Văn T2 10.000 đồng.

Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 16.400.000 đồng, cụ thể như sau: Bị cáo Đoàn Văn T sử dụng 10.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Quang M sử dụng 3.600.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T1 sử dụng 1.500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T2 sử dụng 1.050.000 đồng, bị cáo Trần Văn B sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc.

Bản án sơ thẩm số 59/2020/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

1. Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn T, Nguyễn Quang M, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2 và Trần Văn B phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 27/3/2020 đến ngày 30/3/2020). Phạt tiền bị cáo T 15.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với các bị cáo khác, cụ thể: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang M 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu) để nộp ngân sách Nhà nước; Xử phạt bị cáo Trần Văn B 20.000.000 đồng (hai mươi triệu) để nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/7/2020, bị cáo Đoàn Văn T kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đoàn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã tuyên xử và giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là lao động chính và duy nhất trong gia đình, hiện bị cáo đang phải nuôi bố mẹ già, con nhỏ. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã rất ăn năn hối hận, thành khẩn khai báo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Văn T, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 59/2020/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo trình bày tranh luận và nói lời sau cùng: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo đã đúng người, đúng tội nên chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo để cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, lao động giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội.

Xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo T thấy: Trong vụ án này bị cáo T tuy là người rủ rê các bị cáo khác tham gia đánh bạc, đánh bạc với số tiền lớn nhất nhưng quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là bột phát, không có sự chuẩn bị, bàn bạc gì với nhau từ trước. Tuy nhiên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án là chưa phù hợp. Bởi, trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn T1 là người chuẩn bị công cụ, địa điểm đánh bạc, tham gia đánh bạc tích cực, do vậy cần phải đánh giá vai trò của bị cáo T và bị cáo T1 là ngang nhau mới phù hợp. Bị cáo T cũng có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình ở nơi cư trú, nơi làm việc, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo T đã chủ động nộp tiền phạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm. Do vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là có phần nghiêm khắc, chưa đánh giá đúng vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đoàn Văn T cũng có khả năng tự cải tạo, chưa cần thiết phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để bị cáo cải tạo tại địa phương là phù hợp nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn T, sửa một phần bản án sơ thẩm số 59/2020/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Đoàn Văn T hưởng án treo. Cụ thể:

1.1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

1.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 01/9/2020.

1.3. Giao bị cáo Đoàn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đoàn Văn T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Đoàn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 01/9/2020.

Cỡ chữ