- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh P “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HS-ST Ngày 15-7-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Công.
2. Bà Nguyễn Thị Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Nam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2020/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 và Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 03/2020/QĐ-TA ngày 03 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo:
Trần Minh P, sinh năm: 1999 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Tổ 3 thôn Đ, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh C, sinh năm: 1968 và bà Phạm Thị N, sinh năm: 1974; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có bốn anh chị em.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Anh Tống Minh H, sinh năm: 2003; nơi cư trú: Tổ 9 khu phố 4, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Tống Văn H, sinh năm: 1968 và bà Lê Thị Hà T, sinh năm: 1975; nơi cư trú: Tổ 9 khu phố 4, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (ông H, bà T có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Tống Thị Mỹ T, sinh năm: 1996; nơi cư trú: Tổ 9 khu phố 4, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)
2. Bà Phạm Thị N, sinh năm: 1974; nơi cư trú: Tổ 3 thôn Đ, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 20 ngày 04/02/2020, Trần Minh P điều khiển xe máy không biển số kéo theo rơ mooc tự chế lưu thông trên Quốc lộ 51 hướng từ TX Phú Mỹ đi TP Bà Rịa, khi đến ngã ba Quốc lộ 51 và đường vào Công ty cổ phần nhiệt điện Bà Rịa thuộc khu phố Hương Giang, phường Long Hương, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì Phúc điều khiển xe đi vào đường ngược chiều của Quốc lộ 51 để đi đến chợ Bà Rịa, do để quên đồ ở nhà nên P điều khiển xe quay đầu về hướng đi TX Phú Mỹ thì xảy ra tai nạn với xe máy biển số 72D1-073.94 do anh Tống Minh Hòa, sinh năm: 2003, trú khu phố 4, phường P, TP B điều khiển hướng từ TP Bà Rịa đi TX Phú Mỹ. Hậu quả: Anh Tống Minh H chết trên đường đi cấp cứu tại bệnh viện Bà Rịa.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông nằm trên Quốc lộ 51 theo chiều từ TP Bà Rịa đi TX Phú Mỹ, mặt đường trải nhựa bằng phẳng; rộng 14,5m, chia 4 làn xe chạy, làn trong cùng bên phải rộng 4m, phân chia bởi vạch sơn trắng liền mạch, ba làn còn lại mỗi làn rộng 3,5m phân chia bởi vạch sơn trắng đứt quãng; phân chia hai chiều đường có dải phân cách cứng giữa đường, khu vực xảy ra tai nạn nối với đường vào Nhà máy nhiệt điện Bà Rịa tạo thành ngã ba giao lộ, có vạch sơn dành cho người đi bộ, đầu dải phân cách có gắn biển cấm đi ngược chiều.
Tất cả các dấu vết thu được tại hiện trường được đo vào lề bên phải đường Quốc lộ 51 theo hướng từ TP Bà Rịa đi TX Phú Mỹ.
Điểm mốc xác định là trụ điện số 47BR/14/22 nằm ở dài phân cách cứng.
Sau tai nạn tại hiện trường phát hiện vết cày để lại trên mặt đường là vết cày màu trắng xám, đầu vết cày rộng 1,5cm, vết cày có hướng từ TP Bà Rịa đi TX Phú Mỹ, đầu vết cày cách lề chuẩn là 4,5m; cách xe máy không biển số là 1,1m.
Xe máy biển số 72D1-073.94 sau tai nạn ngã nghiêng bên trái, bánh sau xe nằm đè lên xe máy không biển số, đầu xe quay về hướng đi TP Vũng Tàu, tâm trục bánh trước cách lề 3,9m; tâm trục bánh sau cách lề 4m; lốc máy xe 72D1-073.94 đo đến lốc máy xe không biển số là 0,3m, do đến điểm mốc là 16,1m.
Xe máy không biển số gắn rơ mooc tự chế sau tai nạn dừng ở làn đường trong cùng, rơ mooc tự chế nằm ở làn thứ 2, đầu xe quay về hướng đi TP Bà Rịa, tâm trục bánh trước cách lề 3m; tâm trục bánh sau cách lề 3,7m; bánh bên trái của rơ mooc đo đến lề chuẩn là 4,7m; lốc máy xe không biển số đo đến vị trí vạch sơn dành cho người đi bộ là 14,5m, đo đến diểm mốc là 16,3m.
Vết máu của nạn nhân 1 màu đỏ thẳm, kích thước: 0,3m x 1m, đầu vết máu đo đến lề chuẩn là 3m, đo đến lốc máy xe 72D1-073.94 là 0,7m.
Vết máu của nạn nhân 2 màu đỏ, kích thước: 0,3m x 0,4m nằm cạnh bên trái xe không biển số, tâm vết máu cách xe máy không biển số là 0,3m; cách lề chuẩn là 3,3m.
* Vị trí điểm đụng cách đầu vết cày là 0,5m; cách điểm mốc là trụ điện số 47BR/14/22 là 16m; cách lề chuẩn là 4,6m, cách xe máy không biển số là 2m.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện xác định:
Xe máy biển số 72D1-073.94 sau tai nạn xe máy để lại các dấu vết sau: bung rời hệ thống đồng hồ kilômét, đèn chiếu sáng, đèn chuyển hướng phía trước; nứt vỡ bung rời ốp bảo vệ đồng hồ kilômét, ốp bảo vệ phía trước xe, bửng chắn gió hai bên; cong gập chảng ba và 02 phuộc giảm xóc hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải; niềng xe bánh trước cong vênh biến dạng, đứt nhiều nan hoa; bể vỏ, ruột xe bánh trước; giảm xóc trước bên phải phát hiện vết ma sát bánh dính sơn màu xanh; ốp bảo vệ đèn chuyển hướng sau bên trái bể vỡ kích thước: 6cm x 3cm; ốp bảo vệ thân xe bên trái phía sau nứt vỡ dài 4cm.
Xe máy không biển số kéo rơ mooc không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Sau tai nạn xe máy để lại các dấu vết sau: bung rời hệ thống đồng hồ kilômét, đèn chiếu sáng, đèn chuyển hướng phía trước; nứt vỡ ốp bảo vệ phía trước xe dài 14cm; cung chắn bùn phía trước của bánh trước bị lệch sang phải; bên phải bình xăng móp thụng, bám dính vết sơn màu xanh; trên lốc máy bên phải phát hiện vết ma sát lộ ánh kim, kích thước: 1,5cm x 0,5cm; cần thắng chân cong từ trước ra sau; gác chân trước bên phải cong từ trước ra sau; thanh sắt bên phải của khung xe cong từ phải sang trái, bề mặt phát hiện dấu ma sát trượt từ trước ra sau dài 6cm; gác chân sau bên phải bung rời khỏi vị trí ban đầu; phần rơ mooc không phát hiện dấu vết va chạm mới, thùng dài 1,8m, ngang 1,33m, cao 0,87m so với mặt đất, thùng được gắn với xe máy không biển số bằng ốc vít tự chế.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 62/PC54-Đ4 ngày 12 tháng 03 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận về nguyên nhân chết của anh Tống Minh H như sau: Dấu hiệu chính qua giám định: Tụ máu trong cơ Thái dương phải, nứt sọ Thái dương phải kéo dài vào sàn sọ giữa dài 6cm. Tụ máu dưới màng cứng thùy Thái dương trái. Chảy máu quanh đáy não-tiểu não hai bên. Dập rải rác hai phổi. Nguyên nhân chết: Tống Minh Hchết do chấn thương sọ não: nứt sọ, chảy máu não. Kết luận khác: vật tác động gây chấn thương đầu là do vật tày diện rộng, tác động trực tiếp vào vùng đầu cơ thể nạn nhân hướng từ phải qua trái. Xét nghiệm cồn máu: trong máu tử thi Tống Minh H không tìm thấy Ethanol.
Quá trình điều tra xác định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn: Lỗi chính do Trần Minh P không có giấy phép lái xe theo quy định, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, đi không đúng phần đường, đi vào đường ngược chiều, sử dụng phương tiện tham gia giao thông không bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật, vi phạm vào khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 10, Điều 53 Luật Giao thông đường bộ. Anh Tống Minh H cũng có lỗi không có giấy phép lái xe, đi chưa đúng làn đường theo quy định vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ nhưng đây là lỗi vi phạm hành chính.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, đã khắc phục thiệt hại, gia đình bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng;
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 72D1-073.94, 01 xe mô tô không Biển số và rơ mooc tự chế.
Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô biển số 72D1-073.94 do chị Tống Thị Mỹ T, sinh năm: 1996; hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là chị ruột của anh Tống Minh H đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho chị T, chị T= không yêu cầu gì thêm.
Đối với xe mô tô không biển số gắn mooc tự chế, là xe của gia đình bà Phạm Thị N, bà N khai khi mua xe không làm giấy tờ, mục đích mua xe trên dùng làm phương tiện buôn bán. Tại bản kết luận giám định số 284/PC09-Đ2 ngày 24/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BR-VT xác định: xe máy không biển số, số khung, số máy bị tẩy xóa, không xác định được số nguyên thủy. Ngày 12/04/2020, Công an thành phố Bà Rịa ra thông báo truy tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên, hiện nay vẫn chưa có kết quả.
Xử lý vật chứng: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa ra Quyết định chuyển vật chứng 01 xe mô tô không biển số và 01 rơ mooc tự chế đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản, chờ xử lý.
Phần dân sự: Gia đình bị cáo Trần Minh P đã bồi thường cho gia đình anh Tống Minh H tổng số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Đại diện gia đình là ông Tống Văn H đã nhận tiền và không yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSBR ngày 23/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Trần Minh P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự;
Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo, nguyên nhân xảy ra tại nạn cũng có 1 phần lỗi của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54, 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng. Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh, không biển kiểm soát, không xác định được số khung, số máy, xe hư hỏng nặng và 01 rơ moóc tự chế, không đủ điều kiện lưu hành, còn giá trị sử dụng nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ 20 ngày 04/02/2020, tại ngã ba Quốc lộ 51 và đường vào Công ty cổ phần nhiệt điện Bà Rịa thuộc khu phố Hương Giang, phường Long Hương, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Trần Minh P không có bằng lái xe, điều khiển xe mô tô không biển số kéo theo rơ mooc không bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật, đi vào phần đường ngược chiều trên Quốc lộ 51 vi phạm vào khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 10 và Điều 53 Luật Giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 72D1-073.94 do anh Tống Minh H điều khiển đang lưu thông trên đường Quốc lộ 51 hướng từ thành phố Bà Rịa đi thị xã Phú Mỹ, hậu quả anh H tử vong. Hành vi của bị cáo Trần Minh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo không có giấy phép lái xe mà vẫn điều khiển xe tham gia giao thông và gây ra tai nạn nghiêm trọng hậu quả làm thiệt hại đến tính mạng của anh Tống Minh H, gây mất mát đau thương cho gia đình bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên xem xét áp dụng điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, là lao động nghèo, trong vụ tai nạn bị cáo cũng bị thương nặng, cũng có 1 phần lỗi của bị hại không có giấy phép lái xe, đi chưa đúng làn đường theo quy định. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương và gia đình nơi bị cáo thường trú quản lý, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe và giáo dục.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh, không biển kiểm soát, không xác định được số khung, số máy, xe hư hỏng nặng và 01 rơ moóc tự chế, không đủ điều kiện lưu hành, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; 54, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Trần Minh P 24 tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mƣơi tám) tháng kể từ ngày tuyên án (15/7/2020).
Giao bị cáo Trần Minh P cho Ủy ban nhân dân xã Tân Hải, thị xã Phú Mỹ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô hai bánh, không biển kiểm soát, không xác định được số khung, số máy, xe hư hỏng nặng và 01 rơ moóc tự chế. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 63 ngày 26/6/2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa).
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Minh P phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (15/7/2020) đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng bị cáo vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PV06, PC10 – Công an tỉnh BR-VT; - VKSND thành phố Bà Rịa; - Công an thành phố Bà Rịa; - CCTHA dân sự thành phố Bà Rịa; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Mai |