vanban.org

Bản án 46/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân M 17 (mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/6/2020. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/HS-ST
Ngày 27 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê M Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu M Sửu

Ông Đỗ Trọng Hoành

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Nam - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2020;

Đối với bị cáo: Lê Xuân M, sinh năm 1976 tại: Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn Vân Lộ, Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân M1 (đã chết) và bà Vũ Thị Q (đã chết); có vợ là Lê Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2020, chuyển tạm giam ngày 08/6/2020 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Thanh T1, sinh năm 1990, địa chỉ: thôn Toán T1, xã T T, huyện T H, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

2. Anh Lê Thanh T2, sinh năm 1997, địa chỉ: thôn V, Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

- Người chứng kiến:

1. Ông Doãn Huy H1, sinh năm 1958, địa chỉ: thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

2. Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1962, địa chỉ: thôn H, Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 02/6/2020, tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện Thọ Xuân đang làm nhiệm vụ tại thôn Hùng Mạnh, Xã X, huyện T thì phát hiện Lê Xuân M, sinh năm 1976, trú tại thôn Vân Lộ, Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, cơ quan điều tra phát hiện trên túi áo trước ngực M 01 gói nilon màu đen bên trong có một lớp giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, M khai nhận đó là Heroine mua về để sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói ma túy thu giữ trên người Lê Xuân M trong phong bì ký H1 M; thu giữ 01 xe mô tô nhãn H1 HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 36F5-023.93. Vào hồi 15 giờ 15 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Xuân M nhưng không thu giữ được gì.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Xuân M khai nhận: Vào sáng ngày 02/6/2020, M mượn xe máy của Lê Thanh T2, sinh năm 1997, trú tại thôn Vân Lộ, Xã X, huyện T để đi thăm đồng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, M đi xe máy đến nhà Lê Thanh T1, sinh năm 1990, trú tại: thôn Toán T1, xã T T, huyện T H mua của T1 300.000 đồng ma túy với mục đích để sử dụng cá nhân; khi đang trên đường đi về nhà thì bị phát hiện bắt quả tang.

Ngày 02/6/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 94/CSĐT, giám định đối với mẫu vật được niêm phong trong phong bì ký H1 M có phải là ma túy không? Tên loại ma túy? Khối lượng bao nhiêu?

Tại Bản kết luận giám định số: 1521/PC09 ngày 06/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Chất bội màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng (khối lượng) 0,180g, loại: Heroine.

Qúa trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và đối chất giữa Lê Thanh T1 và Lê Xuân M. Tuy nhiên, không đủ căn cứ chứng M Lê Thanh T1 đã bán ma túy cho M.

Đối với chiếc xe máy nhãn H1 HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 36F5-023.93, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Thanh T2.

Đối với vật chứng vụ án: là toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,166g heroine còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, hiện đang được quản lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSTX ngày 27/7/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Lê Xuân M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Bị cáo Lê Xuân M thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân M từ 15 đến 18 tháng tù. Về vật chứng đề nghị: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói mở niêm phong và số heroine còn lại sau giám định. Về án phí đề nghị: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 02/6/2020 Lê Xuân M đã có hành vi cất giấu trong người 0,180 gam ma túy, loại: Heroine với mục đích sử dụng cá nhân, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo Lê Xuân M là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi do cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Xuân M đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tính chất vụ án là nghiêm trọng; Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, đồng thời gây nên tâm lý hoang mang, bất bình trong nhân dân. Ma túy không những làm hủy hoại đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập… ; mà còn là điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS. Tội phạm về ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự. Bị cáo đã trưởng thành, nhận thức được mức độ sai trái của hành vi bản thân gây ra, nhưng do không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà sống buông thả dẫn đến nghiện chất ma túy và đã bất chấp pháp luật để phạm tội. Vì vậy cần phải xử lý vụ án nghiêm M, bắt cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo M lần đầu phạm tội, chưa có tiền án tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Bằng khen và Kỹ niệm chương, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ“thành khẩn khai báo” và “có bố là người có công với cách mạng” theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: cần thiết phải xử phạt bị cáo Lê Xuân M bằng hình phạt tù với mức hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Thời gian bị cáo đã bị tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo M là đối tượng nghiện chất ma túy, hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,166g heroine còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành là vật cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy. Vật chứng trên hiện đang được quản lý theo đúng quy định của pháp luật.

Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

Bị cáo M khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo mua của Lê Thanh T1 vào sáng ngày 02/6/2020 với giá 300.000 đồng để sử dụng cá nhân. Tuy nhiên quá trình điều tra không đủ căn cứ chứng M Lê Thanh T1 đã bán ma túy cho M, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn H1 HONDA WAVE RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 36F5-023.93. Qúa trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Lê Thanh T2; anh T2 cho bị cáo M mượn đi thăm đồng, không biết việc M sử dụng đi mua ma túy, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lê Thanh T2 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Lê Xuân M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân M 17 (mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/6/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,166g heroine còn lại sau giám định, được đựng trong 01 phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành. Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 50 ngày 30/7/2020.

3. Về án phí: Bị cáo Lê Xuân M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời H1 thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ