vanban.org

Bản án 46/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 31/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Vấn đề dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 và 357 Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/HS-ST
Ngày 31-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Khuyên

Bà Nguyễn Thị Tuyết

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh năm 1998 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Khu 7, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Kim L; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Quyết định số 278/QĐ-UB-NC, ngày 19/01/2012 của Chủ tịch UBND thành phố Vĩnh Yên quyết định đưa Nguyễn Văn M vào trường giáo dưỡng số 2 trong thời gian 24 tháng do có hành vi Cướp giật tài sản. Ngày 01/2/2014, M chấp hành xong, đến nay đã được xóa.

Bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác (có mặt);

Bị hại: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1997; trú tại: thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1991; trú tại: Thôn H, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức M, sinh năm 2001; trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/2/2020, Nguyễn Văn M và Hoàng Đức H đến phòng trọ tại thôn N, xã T, huyện L của anh Nguyễn Quốc T chơi. Đến khoảng 21h ngày 15/2/2020, M và H đến quán trà sữa ở cùng thôn của anh T. Tại đây M hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA-Eciter, biển kiểm soát 19G1-13.222 của anh T để đi chơi và mua thuốc lá. Anh T đồng ý, đưa chìa khóa xe cho M. M điều khiển xe chở H phía sau. Khi đang đi chơi, M nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe mô tô của anh T lấy tiền tiêu sài cá nhân nên chở H về thành phố Vĩnh Yên. M một mình đi xe mô tô đến quán Internet Nhung Game của Vũ Thị N cầm cố lấy số tiền 7.500.000 đồng, M một mình tiêu sài cá nhân hết. Anh T đòi nhiều lần nhưng M không có khả năng trả lại tài sản cho anh T. Ngày 25/4/2020, anh T viết đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch.

Căn cứ Yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch, ngày14/5/2020 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Lập Thạch có bản kết luận số 374, kết luận: 01 xe mô tô BKS19G1-13.222 loại xe nam. Nhãn hiệu YAMAHA. Số máy 55P1296342, số khung 10DY296322 được định giá 17.000.000đồng.

Đối với chị Vũ Thị N, quá trình điều tra, đối chất chị N đều không thừa nhận cầm cố chiếc xe mô tô do M chiếm đoạt. Ngoài lời khai của M, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh hành vi phạm tội của N nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Đối với anh Hoàng Đức H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại phường L, thành phố V nhưng không xác đinh được. Tại Cơ quan điều tra M khai trước, trong và sau khi chiếm đoạt tài sản, đem đi tiêu thụ, M không bàn bạc, trao đổi gì với H.

Ngoài hành vi phạm tội trên, ngày 27/3/2020, Nguyễn Văn M còn có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 18/8/2020 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã xét xử và quyết định xử phạt M 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Vật chứng vụ án: Đối với xe mô tô biển kiểm soát 19G1-13.222 nhãn hiệu YAMAHA-Exciter. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng chưa thu hồi được. Bị hại yêu cầu M phải bồi thường giá trị chiếc xe trên, đến nay M chưa bồi thường gì cho anh T.

Tại Cơ quan điều tra M đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân như nêu trên.

Bản Cáo trạng số 47/CT-VKS-KT ngày 13/8/2020, Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn M đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn M từ 15 tháng đến 18 tháng tù, không phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo M phải bồi thường giá trị chiếc xe mô tô cho anh T là 17.000.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Văn M nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản…. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 15/2/2020, tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn M hỏi mượn và được anh Nguyễn Quốc T cho mượn 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19G1-132.22 để đi chơi. Trên đường đi chơi M nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên nên đã đem đi cầm cố được 7.500.000 đồng rồi chi tiêu cá nhân hết nên không có khả năng trả lại tài sản trên. Giá trị tài sản bị cáo M chiếm đoạt là 17.000.000 đồng.

Hành vi nhận được tài sản sau đó sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp hợp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản do bị cáo Nguyễn Văn M thực hiện đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...b) ... mượn... tài sản của người khác ...và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Xét tính chất của vụ án là ít trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngày 19/01/2012 Chủ tịch UBND thành phố Vĩnh Yên quyết định đưa Nguyễn Văn M vào trường giáo dưỡng số 2 trong thời gian 24 tháng do có hành vi Cướp giật tài sản, bị cáo đã chấp hành xong và được xóa; Ngày 18/8/2020 bị cáo Nguyễn Văn M bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đưa ra xét xử và xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tuy bản án này chưa có hiệu lực nhưng điều đó chứng tỏ bị cáo là người luôn không chấp hành pháp luật. Do đó cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có việc làm, không có tài sản gì nên không cần thiết phải phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước.

. Đối với chị Vũ Thị N, quá trình điều tra, cơ quan điều tra tiến hành đối chất nhưng chị N đều không thừa nhận cầm cố chiếc xe mô tô do M chiếm đoạt. Ngoài lời khai của M, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh hành vi phạm tội của N nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý là phù hợp.

Đối với anh Hoàng Đức H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại phường L, thành phố V nhưng không xác đinh được. Tại Cơ quan điều tra M khai trước, trong và sau khi chiếm đoạt tài sản, đem đi tiêu thụ, M không bàn bạc, trao đổi gì với H. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 19G1-13.222 nhãn hiệu YAMAHA-Exciter. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng chưa thu hồi được, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm để xử lý theo quy định.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc xe mô tô mà bị cáo M đã chiếm đoạt, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, vì vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc xe mô tô cho bị hại là 17.000.000 đồng.

. Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Vấn đề dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 589 và 357 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Quốc T số tiền 17.000.000 đồng.

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ