- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HS - ST Ngày: 08/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Văn Mười - Cán bộ hưu trí.
2/ Ông Y BLơh MLô - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Tạo - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2020/TLST-HS ngày 06/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan H; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1982; Tại tỉnh Đ; Nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam: Con ông: Phan M, sinh năm 1954; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; Vợ: Đinh Thị T, sinh năm 1984; Có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/5/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù theo bản án số 128/2020/HSPT về tội “Đánh bạc”, bị cáo chưa chấp hành án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2020 đến nay. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Đinh Trọng T, sinh năm 1954 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
2/ Bà Đinh Thị T, sinh năm 1984. (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
- Người làm chứng: Ông Trần Văn T, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan H là đối tượng nghiện ma túy, sinh sống tại thôn Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
Khoảng 7 giờ ngày 19/4/2020 Phan H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47K1-0995 (mượn của ông Đinh Trọng T) đi từ nhà ra hướng xã C, huyện K, mục đích để đi mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực quán cà phê Hội Ngộ thuộc thôn T thì gặp một người đàn ông tên D (chưa rỏ nhân thân lai lịch) cùng là người nghiện ma túy như H nên H rủ D cùng đi mua ma túy. Khi đến quán nước bên đường thuộc Km61, quốc lộ 14 thuộc xã C, huyện K thì gặp một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân lai lịch) nhưng H biết người này bán ma túy vì H đã từng mua 01 lần nên H đưa cho người đàn ông này số tiền 1.000.000 đồng, người này đưa cho H 02 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa ma túy, 01 ống hút nhựa màu xanh dán kín hai đầu, bên trong là ma túy. H lấy tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng gói 02 gói giấy bạc và ống hút nhựa chứa ma túy cất vào ví da và bỏ vào túi quần phía sau, sau đó điều khiển xe mô tô chở D quay về hướng xã E, huyện K. Khoảng 9 giờ 35 phút, khi H và D đi đến đoạn đường thuộc khu vực thôn T, xã E thì bị Công an xã Ea Tân kiểm tra và bắt quả tang, thu giữ trong ví da ở túi quần phía sau bên phải của H một gói bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bên trong có 02 gói giấy bạc và 01 ống hút nhựa màu xanh dán kín hai đầu, H khai nhận là ma túy, tàng trữ để sử dụng.
Vật chứng vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng thu giữ gồm: 01 ví da bên trong có một tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng dùng để gói 02 gói giấy bạc và 01 ống hút nhựa màu xanh dán kín hai đầu; 01 xe mô tô BKS 47K1-0995; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 47K1-0995 mang tên Đinh Trọng T; 01 giấy CMND mang tên Phan H; 01 điện thoại di động hiệu Mastell màu đen và số tiền 190.000 đồng và 01 giấy bạc thu giữ tại nhà của H.
Tại bản kết luận giám định số: 333/GĐMT - PC09 ngày 24/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 02 gói giấy bạc và trong 01 ống nhựa màu xanh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,2633 gam, loại Hêrôin.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 03/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố bị cáo Phan Hùng tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, tuyên phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù và đề nghị tổng hợp hình bản đối với bản án số 128/2020/HSPT ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 ví da, 02 gói giấy bạc và 01 ống hút nhựa màu xanh dán kín hai đầu, 01 giấy bạc và 0,2197 gam hêrôin còn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và số tiền 190.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án; tịch thu sung công số tiền 2.000 đồng mà bị cáo dùng để gói ma túy; Công nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đinh Trọng T 01 xe máy BKS 47K1-0995 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đinh Trọng T.
Đối với 01 giấy CMND mang tên Phan H cơ quan CSĐT công an huyện Krông Năng tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm tái hòa nhập cộng đồng, phục vụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Năng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung vụ án, theo tài liệu thu thập được, lời khai của bị cáo, người tham gia tố tụng khác, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 35 phút ngày 19/4/2020, tại khu vực thôn T, xã E, huyện K, Phan H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng 0,2633 gam, loại ma túy là hêrôin.
Hành vi của bị cáo Phan H đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.
Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS qui định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a/……………………………………………………………………………
c/ Heroine,Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine,MDMA hoặc XLR-11có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo nhận thức được hêrôin là chất ma túy gây nghiện làm hủy hoại đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, tội phạm về hình sự. Song do ý thức coi thường pháp luật, muốn thỏa mãn cơn nghiện nên vào ngày 19/4/2020, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,2633 gam hêrôin, mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 20/02/2020 bị TAND huyện K xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm thì ngày 19/4/2020 bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Như vậy, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và cần áp dụng khoản 1 Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng về tội danh, về mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy 01 ví da, 02 gói giấy bạc, 01 ống hút nhựa màu xanh, 01 mẫu giấy bạc và 0,2197 gam hêrôin còn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, số tiền 190.000 đồng vì quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án; Tịch thu sung công số tiền 2.000 đồng mà bị cáo dùng để gói ma túy; Công nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đinh Trọng T 01 xe máy BKS 47K1-0995 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đinh Trọng T; Công nhận cơ quan CSĐT công an huyện Krông Năng tiếp tục tạm giữ 01 CMND mang tên Phan H để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tên D đi mua ma túy cùng Hùng và đối tượng bán ma túy cho Hùng, hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng này nên tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Phan H 02 (hai) năm tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại bản án số 128/2020/HSPT ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 19/4/2020. Được khấu trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam bị cáo từ ngày 03/8/2019 đến ngày 12/8/2019 theo bản án số 128/2020/HSPT ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu đen, 01 mẫu giấy bạc, 02 gói giấy bạc, 01 ống hút nhựa màu xanh và 0,2197 gam hêrôin hoàn lại sau giám định.
+ Tịch thu sung công số tiền 2.000 đồng mà bị cáo dùng để gói ma túy;
+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Mastell màu đen, số tiền 190.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
+ Công nhận cơ quan CSĐT công an huyện Krông Năng tiếp tục tạm giữ 01 CMND mang tên Phan H để xử lý theo quy định của pháp luật.
+ Công nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đinh Trọng T 01 xe máy BKS 47K1-0995 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đinh Trọng T.
(Đặc điểm, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2020 giữa cơ quan CSĐT công an huyện Krông Năng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phan H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng; - Công an huyện Krông Năng; - THADS huyện Krông Năng; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HSVA, VPCQ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thu Trang |