vanban.org

Bản án 46/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Yên Bái Tuyên án 29/10/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/10/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Công V. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái như sau:

Giao bị cáo Trương Công V cho Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Y, tỉnh Yên bái để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Công V- Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Công V. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________
Bản án số: 46/2020/HS-PT
Ngày 29-10-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thái Hưng.

Các Thẩm phán: Ông Trần Trung Hải, bà Đỗ Thu Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tố Uyên- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Huế- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 60/2020/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Trương Công V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2020/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trương Công V, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1981 tại Yên Bái;

Nơi cư trú: Thôn T, xã A, thành phố Y, tỉnh Yên Bái;

Nghề nghiệp: Không;

Trình độ văn hóa: 2/12;

Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trương Công Tr và bà Nguyễn Thị T;

Có vợ: Triệu Thị C và 02 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2015);

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 02/6/2020, tại ngoại ngày 04/6/2020; có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, còn có 09 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng nghị (Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 01/6/2020, sau khi ăn cơm uống rượu tại nhà anh Trần Văn Tr (địa chỉ: Thôn T, xã A, thành phố Y, tỉnh Yên Bái); Lê Xuân Q, Nguyễn Hữu Đ và Trương Công V rủ nhau đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Q cắt quân vị hình tròn từ quân bài tú lơ khơ và cầm theo 01 chiếc bát sứ, 01 chiếc đĩa sứ đi cùng Đ, V lên phòng tầng 2 nhà anh Tr để đánh bạc. Khoảng 15 phút sau thì có Nguyễn Văn T, Bùi Ngọc Ph, Nguyễn Ngọc Ph, Lê Văn Ph, Nguyễn Văn G, Nguyễn Ngọc A và Phạm Văn H lần lượt đi lên phòng và cùng tham gia đánh bạc.

Các đối tượng đánh bạc đến 22 giờ 55 phút cùng ngày thì bị Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm: 01 bát sứ có hình hoa văn; 01 đĩa sứ có hình hoa văn; 04 (bốn) quân vị hình tròn (đường kính 1,5cm, một mặt nền trắng có hình chất “Tép” màu đen, một mặt hoa văn màu xanh) và số tiền 8.312.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

1. Về tội danh:

- Tuyên bố các bị cáo Lê Xuân Q, Nguyễn Văn T, Trương Công V, Phạm Văn H, Nguyễn Ngọc A, Bùi Ngọc Ph, Nguyễn Ngọc Ph, Lê Văn Ph, Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Văn G phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Công V 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án; được khấu trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 02/6/2020 đến ngày 04/6/2020).

Phạt bổ sung bị cáo Văn 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt 09 bị cáo khác hình phạt chính là phạt tiền và cải tạo không giam giữ cùng về tội “Đánh bạc”; quyết định xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/8/2020, bị cáo Trương Công V kháng cáo xin được hưởng án treo và giảm tiền phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Công V; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trương Công V 06 tháng tù nhưng hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Phạt bị cáo 10.000.000đồng nộp ngân sách Nhà nước..

Về án phí: Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Công V khai báo thành khẩn. Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như bản án sơ thẩm đã xác định và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Công V nộp trong thời hạn quy định tại Điều 333 và đúng thủ tục quy định tại Điều 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Lời khai của bị cáo đã phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 02/6/2020, Tại tầng 2 nhà anh Trần Văn Tr (địa chỉ: Thôn T, xã A, thành phố Y, tỉnh Yên Bái); các bị cáo Trương Công V, Lê Xuân Q, Nguyễn Văn T, Phạm Văn H, Nguyễn Ngọc A, Bùi Ngọc Ph, Nguyễn Ngọc Ph, Lê Văn Ph, Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Văn G đã đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, được thua bằng tiền. Tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 8.312.000đồng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an và an toàn xã hội. Toà án cấp sơ thẩm đã quy kết các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và đã áp dụng cho bị cáo được hưởng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng hình phạt với mỗi bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và phù hợp.

Xét kháng cáo của bị cáo Trương Công V, HĐXX xét thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai báo chưa thành khẩn. Nhưng tại tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra thực sự ân hận, hối lỗi về hành vi mà mình đã thực hiện- thể hiện rõ sự ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết mới giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự- cần được áp dụng thêm cho bị cáo. Do bị cáo là người có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết cách ly khỏi xã hội cũng có thể giáo dục, cải tạo được bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.

Đối với nội dung kháng cáo xin giảm tiền phạt, Xét thấy: Cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 10.000.000 đồng đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp. Nên nội dung kháng cáo này của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Cần sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái theo hướng: Áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Chấp nhận một phần kháng của bị cáo Trương Công V, cho bị cáo dược hưởng án treo.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Công V. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 40/2020/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái như sau:

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Công V 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bổ sung bị cáo V 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Trương Công V cho Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Y, tỉnh Yên bái để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án,

Bị cáo Trương Công V không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ