vanban.org

Bản án 46/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 10/08/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bản án sơ thẩm;

Tuyên bố bị cáo phạm tội Xử phạt: tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Q - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bản án sơ thẩm;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/HS-PT
Ngày: 10 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hoài Nam

Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Sơn – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh

Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Bà Tống Thị Thuý - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2020/TLPT-HS ngày 25 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Thanh Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2020/HS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh Q, sinh năm: 1987; Giới tính: nam; Nơi cư trú: Xóm MĐ, xã HG, huyện HH, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá (học vấn) 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trường Sinh, sinh năm 1956; con bà Trần Thị Duyên, sinh năm 1958; Vợ Triệu Thị Đào, sinh năm 1993, có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1984 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Hoàng Thị T, sinh năm: 1986 (là vợ anh Cường). Nơi cư trú: Xóm 10, xã Hải Ninh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Trần Thị H, sinh năm 1992; Vắng mặt.

Địa chỉ: Đội 5, xã HP, huyện HH, tỉnh NĐ.

2. Ông Trần Thành N, sinh năm 1953; Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm MT, xã HG, huyện HH, tỉnh NĐ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 5 giờ 15’ ngày 25-10-2019, Nguyễn Thanh Q điều khiển xe mô tô BKS 19T1-246.12 đi trên trục đường liên xóm theo hướng xóm Mỹ Đức đi xóm Mỹ Tiến, xã Hải Giang, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Khi đến ngã tư giao nhau với trục đường liên xã, mặc dù bên phải đường theo chiều đi của Quang có biển cảnh báo giao nhau với đường ưu tiên nhưng Quang không giảm tốc độ, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên nên xe mô tô do Quang điều khiển đã va chạm với xe mô tô BKS 18H1-421.57 do anh Phạm Văn C điều khiển trên trục đường liên xã, hướng từ xã Hải Toàn đi chợ Ninh Mỹ, xã Hải Giang. Hậu quả: Anh Cường bị chấn thương sọ não được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định nhưng đã tử vong hồi 10 giờ 15’ cùng ngày. Nguyễn Thanh Q bị xây xước nhẹ.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 68/19/TT ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Nguyên nhân tử vong của anh Phạm Văn C là do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ vùng giữa chẩm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2020/HS-ST ngày 17-4-2020 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Xử phạt Nguyễn Thanh Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23-4-2020, bị cáo Nguyễn Thanh Q kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thanh Q giữ nguyên nội dung kháng cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện lao động để chăm lo gia đình và có trách nhiệm với gia đình bị hại. Vì anh trai bị cáo mới mất, bố bỏ mẹ con đi từ khi bị cáo còn nhỏ; bị cáo đã lo mai táng cho bị hại và gia đình bị hại cũng cảm thông nên đã xin cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định sau khi phân tích nội dung vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà đã kết luận: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội, không oan. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không có căn cứ gì mới. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, 356 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về phần thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Q làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với lời khai người làm chứng; Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 5giờ 15’ ngày 25-10-2019, Nguyễn Thanh Q điều khiển xe mô tô BKS 19T1-246.12 đi trên trục đường liên xóm theo hướng xóm Mỹ Đức đi xóm Mỹ Tiến, xã Hải Giang, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Khi đến ngã tư giao nhau với trục đường liên xã, mặc dù bên phải đường theo chiều đi của Quang có biển cảnh báo giao nhau với đường ưu tiên nhưng Quang không giảm tốc độ, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên nên xe mô tô do Quang điều khiển đã va chạm với xe mô tô BKS 18H1-421.57 do anh Phạm Văn C điều khiển đang đi trên đường ưu tiên. Hậu quả: Anh Cường bị chấn thương sọ não và tử vong hồi 10 giờ 15’ cùng ngày.

Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thanh Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thanh Q, Hội đồng xét xử nhận định: Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét nguyên nhân, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 12 (mười hai) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, xét bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ cận nghèo. Trước khi xét xử phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại là chị Hoàng Thị T có đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là tình tiết mới được xuất trình tại cấp phúc thẩm. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Q. Sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh Q cho UBND xã Hải Giang, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh Q không phải nộp.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- CA; VKS tỉnh Nam Định;

- TAND huyện Hải Hậu;

(ĐÃ KÝ)

- Chi Cục THADS huyện Hải Hậu ;

- Bị cáo; người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ; VP.

Mai Thị Minh Hồng

Ngày năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số /2019/TLPT-HS ngày tháng năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số /2019/QĐXXPT-HS ngày tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo

và các bị cáo khác, do có kháng cáo của đối với Bản án hình sự sơ thẩm số /2018/HS-ST ngày -2018 của Toà án nhân dân .

- Bị cáo liên quan đến kháng cáo:

Họ và tên: , sinh ngày tại ; nơi cư trú: ; nghề nghiệp: ; trình độ văn hóa: ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông và bà ; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư - Luật sư của văn phòng luật sư - thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn dân sự:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Người đại diện theo uỷ quyền của

Đều cư trú tại:

- Người kháng cáo: là trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm đã quyết định:

Ngoài ra Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng

cáo.

Ngày có đơn kháng cáo với nội dung: Toà án cấp sơ thẩm

Tại phiên toà phúc thẩm

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định kết luận về vụ án: Đơn kháng cáo của hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về nội dung: Cấp sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về phần thủ tục: Đơn kháng cáo của ..làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của thấy rằng: [6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận, nên .. không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự,

Chấp nhận kháng cáo của bản án sơ thẩm;

Căn cứ vào các khoản Điều ; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999;

1. Tuyên bố bị cáo phạm tội

2. Xử phạt: tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ;

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự;

4. Vật chứng: (Vật chứng đang được quản lý tại kho vật chứng của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nam Định, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số ngày 2019 giữa Công an tỉnh Nam Định và Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nam Định)

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;

5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì người bị thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ