- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Thái B - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? luật Tố tụng hình sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HS-PT Ngày 04-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Long Kiếm;
Các Thẩm phán: Ông Lê Xuân Sơn;
Ông Vi Đức Trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Cao Cường – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Tống Văn Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 38/2020/TLPT-HS
ngày 26 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo Chu Thái B do có kháng cáo của bị cáo
đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2020/HS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Chu Thái B, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1993 tại
huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã M,
huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân
tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu
Văn T, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Vi Thị H, sinh năm 1952; vợ, con: Chưa
có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi
phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt, tạm giam từ ngày 31 tháng 7 năm
2019 đến ngày 26 tháng 12 năm 2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo
lĩnh; hiện tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bế Quang H, Luật sư Văn phòng
phòng luật sư H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Bị hại: Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nông Văn N - Chủ tịch Ủy ban nhân
dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 01 năm 2019, bà Vi Thị H có nói chuyện với Chu Thái B
về việc trước đây gia đình có một khu vườn đồi thuộc thôn K, xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã bỏ hoang từ khoảng năm 2002. Sau khi nghe mẹ nói chuyện, Chu Thái B đến khu vườn xem thì thấy khu vườn đồi có lối mòn nhỏ do trâu bò đi lại, trong khu vườn cây cối rừng rậm rạp không có người trồng trọt trông coi. Chu Thái B có ý định thuê người mở đường, phát dọn khu vườn đồi để trồng cây bạch đàn và Chu Thái B có nói lại ý định của mình với anh trai là Chu Văn H thì anh Chu Văn H nói với Chu Thái B nếu làm được thì làm. Sau đó Chu Thái B gọi điện nhờ anh Vi Văn T tìm thuê giúp một chiếc máy xúc mở đường vào khu vườn đồi để dọn vườn trồng cây. Anh Vi Văn T gọi điện cho anh Vi Văn K để thuê mở đường, anh Vi Văn K đồng ý và bảo anh Vi Văn T đưa đi xem vị trí khu vườn, anh Vi Văn T chở anh Vi Văn K lên đường mòn rẽ vào khu vườn đồi nhà Chu Thái B và chỉ cho anh Vi Văn K biết vị trí khu vườn (do khi còn nhỏ anh Vi Văn T có được hộ trồng ngô sắn ở khu vườn đồi nhà Chu Thái B). Sau khi quan sát anh Vi Văn K thấy khu rừng do anh Vi Văn T chỉ là rừng tự nhiên, phía bên ngoài khu rừng đã có gia đình khác đang trồng cây thông, nên anh Vi Văn K nghĩ khu rừng đó là rừng nhà anh Vi Văn T nên đã đồng ý dùng máy xúc mở đường vào khu rừng với giá 500.000 đồng/01 giờ. Sau khi anh Vi Văn K nhận lời, anh Vi Văn T đã thông báo lại cho Chu Thái B và Chu Thái B hẹn ngày để anh Vi Văn K đưa máy xúc lên mở đường. Thời gian đó, do Chu Thái B đang đi làm công trình bận, nên đã nhờ anh Chu Văn H đón và chỉ đường cho anh Vi Văn K mở đường vào khu đồi rừng. Anh Vi Văn K dùng máy xúc mở đường khoảng 05 đến 06 ngày cuối tháng 01 năm 2019 được một con đường dài khoảng 1.282m, rộng khoảng 3,2m để vào khu đồi rừng nhà Chu Thái B. Sau khi mở đường xong, đến tháng 2 năm 2019, Chu Thái B thuê anh La Văn H, anh Vi Văn B, anh Vi Văn T đều là người cùng thôn, tiến hành cắt hạ cây trong khu rừng để dọn vườn, tiền công mỗi người 250.000 đồng/01 ngày. Chu Thái B trực tiếp chuẩn bị rồi đưa cho nhóm anh La Văn H 02 cưa máy và đưa họ vào khu vườn để cắt hạ cây, ngày hôm sau do Chu Thái B bận, Chu Thái B nhờ anh Chu Văn H mang dầu máy vào cho nhóm anh La Văn H và nhờ anh Chu Văn H chỉ cho nhóm anh La Văn H biết danh giới của khu đồi rừng vì bản thân Chu Thái B không nắm rõ. Quá trình cắt hạ cây Chu Thái B thuê nhóm anh La Văn H cắt hạ ra thành từng khúc dài 01m đến 02m để tiện cho việc thu gom. Khi nhóm anh La Văn H cắt dọn cây được 02 ngày thấy có nhiều gỗ, nên Chu Thái B có ý định bán lấy tiền chi trả tiền công mở đường và công cắt hạ cây. Chu Thái B đã nhờ anh Chu Văn Hến tìm gọi thuê xe ôtô để chở gỗ đi bán, anh Chu Văn H gọi thuê xe ôtô của anh Lăng Văn C, sau đó Chu Thái B trực tiếp gặp anh Lăng Văn C thỏa thuận giá mỗi chuyến là 600.000 đồng rồi đưa anh Lăng Văn C vào khu đồi và nhờ nhóm của anh La Văn H bốc lên xe ôtô chở ra xưởng thu mua gỗ của anh Nguyễn Quang T để bán (02 xe gỗ bán được 7.200.000 đồng). Đến ngày 20 tháng 02 năm 2019, trong khi nhóm anh La Văn H đang cắt hạ cây thì bị phát hiện và yêu cầu dừng chặt hạ cây vì khu rừng nằm trong diện tích rừng phòng hộ. Nhóm của anh La Văn H dừng không làm nữa và thông báo lại cho Chu
Thái B biết. Sau khi vụ việc bị phát hiện quá trình điều tra xác định các cơ quan
chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, đo đạc, kiểm đếm và xác định vị
trí rừng, kết quả: Vị trí khu rừng Chu Thái B thuê mở đường, cắt hạ cây để dọn
vườn trồng cây là rừng phòng hộ do Uỷ ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng
Sơn quản lý, gia đình Chu Thái B không có giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng
đối với khu đất trên. Khu đất thuộc lô 19 khoảnh 25 và lô 06 khoảnh 26 tiểu khu
359 là đất rừng phòng hộ, trạng thái TXP (rừng gỗ tự nhiên núi đất phục hồi) và
thuộc rừng phòng hộ rất xung yếu do Uỷ ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng
Sơn quản lý và đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn phê duyệt quy hoạch tại
Quyết định số 1833/QĐ-UBND ngày 08 tháng 10 năm 2007 và theo Bản đồ hiện
trạng rừng năm 2017 và bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã N, huyện C, tỉnh Lạng
Sơn. Diện tích rừng phòng hộ bị san ủi mở đường 4.102m2, diện tích rừng phòng
hộ bị chặt hạ cây gỗ rừng tự nhiên nằm dọc bên phải con đường 8.505m2. Tổng
diện tích rừng phòng hộ bị hủy hoại 12.607m2. Về khối lượng gỗ rừng bị chặt
hạ, qua kiểm đếm xác định ngoài số gỗ Chu Thái B đã thuê Lăng Văn C chở đi
bán là 02 xe (không xác định được khối lượng) thì sau khi vụ việc bị phát hiện
Uỷ ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã vận chuyển về trụ sở Uỷ ban
nhân dân xã để bảo quản 15,135m3, tại hiện trường còn lại 7,58m3, tổng số gỗ bị
chặt hạ là 22,715m3, tất cả đều là gỗ rừng tự nhiên thuộc nhóm gỗ tạp thông
thường.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 36/KL-HĐĐGTS ngày 03 tháng 10 năm
2019 của Hội đồng định giá kết luận: Giá trị gỗ tròn các loại, thuộc nhóm gỗ tạp
thông thường, tổng khối lượng 22,715m3 với giá trị khảo sát là 22.369.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2020/HS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2020
của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố bị cáo Chu
Thái B phạm tội Hủy hoại rừng. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 243; điểm a, b
khoản 1 Điều 47, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều
54 của Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Chu Thái B 03 (ba) năm 06 (sáu)
tháng tù, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 31/7/2019 đến ngày 26/12/2019.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về việc xử lý vật chứng; quyết định về án phí
và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, bị cáo Chu Thái B có đơn kháng cáo xin được
hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chu Thái B bổ sung kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Cũng tại phiên tòa, đại diện bị hại yêu
cầu bị cáo phải bồi thường trị giá 02 xe gỗ bị cáo đã bán là 6.000.000 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Đơn kháng
cáo của bị cáo Chu Thái B làm trong hạn luật định nên hợp lệ. Bản án sơ thẩm
tuyên bố bị cáo Chu Thái B phạm tội Hủy hoại rừng là đúng người, đúng tội,
không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo xuất trình thêm chứng cứ mới: Ủy
ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã có Giấy xác nhận đề ngày 06/7/2020, thể hiện bị cáo đã trình báo về việc hiện tượng tụ tập đánh bạc; bị cáo ủng hộ quỹ xây dựng nông thôn mới số tiền là 10.000.000 đồng; đơn xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương, đề nghị Tòa án tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương; tại Tòa đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; sửa án sơ thẩm giảm mức hình phạt và cho hưởng án treo đối với bị cáo Chu Thái B, xử phạt bị cáo Chu Thái B 03 năm tù và cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
Về bồi thường thiệt hại: Cần xác định Ủy ban nhân dân xã N, huyện C,
tỉnh Lạng Sơn là bị hại của vụ án. Buộc bị cáo phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giá trị 02 xe gỗ là 6.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm để khắc phục những thiếu sót này của Tòa án cấp sơ thẩm.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Chu Thái B: Chấp nhận ý kiến của
đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chu Thái B thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của bản thân như nội dung của Bản án sơ thẩm. Như vậy, Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Chu Thái B về tội Hủy hoại rừng theo điểm c khoản 3 Điều 243 của Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa, bị cáo bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ
thẩm đã xem xét đến hoàn cảnh, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo Chu Thái B mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù là có căn cứ.
Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa phúc thẩm, đại
diện bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá 02 xe gỗ bị cáo đã bán là 6.000.000 đồng, bị cáo đã khắc phục hậu quả bằng hành động, tự giác nộp lại số tiền bán 02 xe gỗ là 6.000.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã xuất trình thêm các tài liệu, chứng cứ
mới: Bị cáo đã lập công chuộc tội, thể hiện là Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã có Giấy xác nhận đề ngày 06/7/2020, đã xác nhận nội dung bị
cáo đã trình báo về việc hiện tượng tụ tập đánh bạc, giúp chính quyền địa
phương ngăn chặn hoạt động xấu; Phiếu thu có nội dung bị cáo đã ủng hộ quỹ
xây dựng nông thôn mới số tiền là 10.000.000 đồng; đơn xin hưởng án treo có
xác nhận của chính quyền địa phương, đề nghị Tòa án tạo điều kiện cho bị cáo
được cải tạo tại địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo vì lý do: Bị cáo cư trú tại xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn nhưng xã M, huyện
C, tỉnh Lạng Sơn không có rừng phòng hộ, không tuyên truyền về việc bảo vệ
rừng phòng hộ nên bị cáo không nhận thức được về việc bảo vệ rừng, bị cáo
không biết đó là rừng phòng hộ, bị cáo cho rằng khu rừng đó là của gia đình bị
cáo vẫn quản lý từ trước, bị cáo phát đường đi và chặt cây để trồng cây bạch đàn
phát triển kinh tế gia đình; bị cáo đã hợp tác tốt với Cơ quan điều tra, bị cáo và
gia đình chấp hành tốt pháp luật; bị cáo tuổi đời còn trẻ nhận thức bồng bột, là
lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già yếu.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm được
quy định tại điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, luôn chấp hành tốt
mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có nơi cư trú rõ
ràng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo
không biết là rừng phòng hộ đã được quy hoạch mà chỉ suy nghĩ chủ quan cho là
khu rừng đó trước kia gia đình vẫn hay canh tác nên đã thuê người mở đường,
phát cây để thực hiện ý định trồng cây bạch đàn.
Trên cơ sở đánh giá về nhân thân, điều kiện phạm tội, mức độ thực
hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo
Chu Thái B. Xét thấy, cần giảm nhẹ hình phạt cho bị và bị cáo có đủ điều kiện
được hưởng án treo theo Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày
15/05/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 nên có căn cứ
chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chu Thái B, cần sửa Bản án sơ thẩm giảm mức
hình phạt tù và cho hưởng án treo.
Về bồi thường thiệt hại: Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng
Sơn được giao quản lý rừng, cần xác định là bị hại của vụ án. Tòa án cấp sơ
thẩm xác định Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là không đúng. Tài sản của Nhà nước không ai
có quyền được thỏa thuận, định đoạt. Cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại
giá trị 02 xe gỗ là 6.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền
6.000.000 đồng bị cáo đã nộp để khắc phục do bị cáo đã bán 02 xe gỗ là vật
chứng của vụ án là không chính xác. Cần sửa án sơ thẩm để khắc phục những
thiếu sót nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo Chu
Thái B phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Chu Thái B được chấp nhận nên
bị cáo Chu Thái B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ
luật Tố tụng hình sự 2015;
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 65; Điều 50; khoản 1 Điều 54; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 585, Điều 586,
Điều 589 cả Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm h khoản 2 Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của bị
cáo Chu Thái B, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2020/HS-ST ngày 23/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt, bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, cụ thể:
1. Xử phạt bị cáo Chu Thái B 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo về tội
Hủy hoại rừng. Thời thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án (04/8/2020).
Giao bị cáo Chu Thái B cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Lạng
Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo phải bồi thường 6.000.000 đồng
(sáu triệu đồng) cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Xác nhận bị cáo đã nộp đầy đủ. (theo Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng, tỉnh lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện Chi Lăng, tỉnh lạng Sơn, ngày 08/01/2020)
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 cưa gỗ cầm tay, trong đó 01
cưa gỗ cầm tay màu cam, sườn máy có ghi chữ và số màu đen: STIHL MS 250, máy cũ đã qua sử dụng và 01 cưa gỗ cầm tay màu xanh, sườn máy có ghi dòng chữ màu xanh HUYNDAI và chữ màu đỏ HD-8050, máy cũ đã qua sử dụng.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi
Lăng, tỉnh lạng Sơn, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/01/2020)
4. Về án phí: Bị cáo Chu Thái B không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (04/8/2020).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; người bào chữa; - Tổ HCTP, KTNV&THA; - Lưu: Hồ sơ, Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Long Kiếm |