- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Lê Dạ T xin ly hôn ông Trần Thanh L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Lê Dạ T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HNGĐ-ST Ngày: 14-7-2020 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Loan Trần Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Doãn Đức Hùng.
2. Ông Đinh Xuân Dậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: ông Đinh Ngọc Mạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 180/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2020, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lê Dạ T, sinh năm 1990
HKTT: Ấp 5, xã A, huyện B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên lạc: Ấp 3, xã A, huyện B, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1988
HKTT và địa chỉ liên lạc: Ấp 3, xã A, huyện B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T, ông L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2019, tại bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Lê Dạ T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Thanh L tự nguyên thương yêu và đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B. Trong quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn xảy ra cãi vã, ông L không lo làm ăn, ăn chơi không quan tâm đến vợ và các con, sống không chung thủy. Do vậy hạnh phúc gia đình không có nên đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Trần Anh D, sinh ngày 23/9/2008 và cháu Trần Thanh T, sinh ngày 19/4/2018. Khi ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Trần Thanh L nhưng ông Trần Thanh L vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn thực hiện không đúng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Lê Dạ T. Giao cháu Trần Anh D và cháu Trần Thanh T cho bà Nguyễn Lê Dạ T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông Trần Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu. Bà Nguyễn Lê Dạ T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Lê Dạ T có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập; Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật cho ông Trần Thanh L nhưng ông Trần Thanh L vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê Dạ T và ông Trần Thanh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 36/2008 ngày 12/9/2008 nên áp dụng Điều 9, 11, 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo bà T trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn xảy ra cãi vã, ông L không lo làm ăn, ăn chơi không quan tâm đến vợ và các con, sống không chung thủy. Do vậy hạnh phúc gia đình không có nên đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L. Qua xác minh tại địa phương ngày 16/5/2020, thì địa phương không nắm rõ mâu thuẫn gia đình của bà T và ông L do đương sự không yêu cầu địa phương hòa giải. Tuy nhiên, Tòa án cũng đã tiến hành triệu tập ông Trần Thanh L đến Tòa để hòa giải đoàn tụ nhưng ông Trần Thanh L không đến, cho thấy ông Trần Thanh L không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy, bà T đã không còn tình cảm với ông L, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ nên việc bà Nguyễn Lê Dạ T xin ly hôn với ông Trần Thanh L là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Lê Dạ T, bà Nguyễn Lê Dạ T được ly hôn với ông Trần Thanh L.
Về con chung: Bà T và ông L có 02 con chung là cháu Trần Anh D, sinh ngày 23/9/2008 và cháu Trần Thanh T, sinh ngày 19/4/2018. Khi ly hôn, bà Nguyễn Lê Dạ T xin được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông Trần Thanh L cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là trách nhiệm của cha mẹ. Khi ly hôn bà Nguyễn Lê Dạ T xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Trần Thanh L cấp dưỡng. Ông Trần Thanh L đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến gì về con chung, cháu Trần Anh D có nguyện vọng được ở với mẹ, còn cháu Trần Thanh T hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu Duy và cháu Tâm nên giao cháu Duy và cháu Tâm cho bà Nguyễn Lê Dạ T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để tạo điều kiện ổn định phát triển về mọi mặt cho các cháu. Tạm thời ông L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Lê Dạ T trình bày không có. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Lê Dạ T trình bày không có. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về nợ chung, nên không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Lê Dạ T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lê Dạ T được ly hôn với ông Trần Thanh L.
Về con chung: Giao cháu Trần Anh D, sinh ngày 23/9/2008 và cháu Trần Thanh T, sinh ngày 19/4/2018 cho bà Nguyễn Lê Dạ T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của ông Trần Thanh L.
Vì quyền lợi của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Bà Nguyễn Lê Dạ T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007038 ngày 02/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà Nguyễn Lê Dạ T đã nộp đủ án phí.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Đồng Nai; - VKS nhân dân huyện Trảng Bom; - Chi cục THADS huyện Trảng Bom; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Loan Trần Hải Yến |