vanban.org

Bản án 46/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu ly hôn vì mâu thuẩn gia đình"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 02/7/2020
V/v “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vương Hoàng Phúc

2. Ông Dương Văn Đến

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: không tham gia phiên tòa;

Ngày 02 tháng 7 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2020/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2020 về việc“Tranh chấp ly hôn,”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2020/QĐST - HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

- - -Nguyên đơn: Kiên Thị Sô Ra G, sinh 1995;

Địa chỉ: K4, P8, TP. T, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: KSơn Pănh N, sinh 1989 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp SB, xã LH, huyện C T, tỉnh T V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Kiên Thị Sô Ra G trình bày và yêu cầu như sau:

Chị Kiên Thị Sô Ra G với anh KSơn Pănh N kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, TP. Trà Vinh theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17/2016 ngày 11/3/2016. Trong cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu sống hạnh phúc nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2019 trở về sau thì vợ chồng thường hay xảy ra mâu thuẫn do anh KSơn Pănh N không lo làm ăn mà chỉ ham chơi cờ bạc, rượu chè, đánh vợ và không lo quan tâm chăm sóc gia đình. Chị Ra G nhiều lần cố gắng nhịn nhục sống chung mong hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Pănh Nha vẫn không thay đổi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 08 năm 2019 chị Ra G về cha mẹ ruột ở phường 8, TP. Trà Vinh sống cho đến nay, không ai quan tâm đến nhau nữa. Nay tình cảm không còn nên chị Ra G yêu cầu tòa giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Chị Ra G yêu cầu được ly hôn với anh KSơn Pănh N ;

Về con chung: Có 01 con chung tên Sơn Thị Hạnh T, sinh 20/01/2017; chị Ra G yêu cầu được nuôi và không yêu cầu anh Pănh N cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Anh KSơn Pănh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trả lời đối với yêu cầu khởi kiện của chị Ra Gia.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án anh KSơn Pănh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Chị Kiên Thị Sô Ra G với anh KSơn Pănh N xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2016 có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; do đó hôn nhân của chị Ra G, anh Pănh N là hợp pháp. Trong quá trình chung sống do bất đồng quan điểm nên từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, chị Ra G bỏ về cha mẹ ruột ở p 8, TP. Trà Vinh sinh sống từ tháng 8 năm 2019 và sống ly thân cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Ra G kiên quyết xin ly hôn; anh Pănh N vẫn vắng mặt, anh Pănh N không tạo điều kiện để đoàn tụ gia đình và không có ý kiến phản bác lại yêu cầu ly hôn của chị Ra G, không quan tâm đến tình cảm vợ chồng, bỏ mặc hậu quả xảy ra; Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; Từ đó căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Kiên Thị Sô Ra G được ly hôn với anh KSơn Pănh N.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Sơn Thị Hạnh T, sinh 20/01/2017; hiện con còn nhỏ đang sống chung với chị Sơn Thị Hạnh T nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Ra G tiếp tục nuôi con, anh KSơn Pănh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ra G không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ra G cho chị Kiên Thị Sô Ra G được ly hôn với anh KSơn Pănh N .

2. Về con chung: chị Kiên Thị Sô Ra G tiếp tục nuôi con chung tên Sơn Thị Hạnh T, sinh 20/01/2017; anh KSơn Pănh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ra G không yêu cầu.

Quyền thăm nom con: sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Buộc nguyên đơn Kiên Thị Sô Ra G phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008239 ngày 06/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận::

Cỡ chữ