vanban.org

Bản án 46/2020/DS-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tri T3, Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2018/DS-ST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh N.

1. Công nhận cho các ông bà: Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2 và những người thừa kế của ông Nguyễn Văn N1 là Nguyễn Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Giáng H1, Nguyễn Thị Mai T4, Nguyễn Thị Huyền T5, Nguyễn Thị Kim T6, Nguyễn Đăng K được quyền sử dụng hợp pháp 1.500 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị T - Nguyễn Tri T1"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tri T3, Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2018/DS-ST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh N.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/DS-PT
Ngày 26 tháng 02 năm 2020
“V/v Chia tài sản chung, chia thừa kế,
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công Các thẩm phán:

Ông Đặng Văn Thành

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Duẫn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2019/TLPT-DS ngày 25 tháng 01 năm 2019 về “Chia tài sản chung, chia thừa kế, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2018/DS-ST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh N bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 17/2019/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953 – Có mặt;

Địa chỉ: Khu phố 1, phường Đài Sơn, thành phố P, tỉnh N.

1.2. Bà Nguyễn Thị Thu Đ, sinh năm 1958 – Có mặt;

1.3. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1962 – Có mặt;

1.4. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 – Có mặt;

1.5. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1966 – Có mặt;

Cùng địa chỉ: Thôn Tân Sơn 2, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N.

Người đại diện hợp pháp của các ông bà T, Đ, V, T1, T2: Ông Phan H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số 46 Trần Nhân Tông, phường Thanh Sơn, thành phố P, tỉnh N (Văn bản ủy quyền cùng ngày 30/5/2017) – Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tri T3, sinh năm 1952 – Có mặt;

Địa chỉ: Thôn Tân Sơn 1, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Nguyễn Thị Chiêu L, sinh năm 1962 (Vợ ông T3) – Có mặt;

Cùng địa chỉ ông Nguyễn Tri T3.

3.2. Chị Nguyễn Thị Giáng H1, sinh năm 1971 – Vắng mặt;

Địa chỉ: Khu phố 3, phường Đài Sơn, thành phố P, tỉnh N.

3.3. Chị Nguyễn Thị Thúy V1, sinh năm 1968 – Vắng mặt;

3.4. Chị Nguyễn Thị Mai T4, sinh năm 1973 – Vắng mặt;

3.5. Chị Nguyễn Thị Huyền T5, sinh năm 1977 – Vắng mặt;

3.6. Chị Nguyễn Thị Kim T6, sinh năm 1980 – Vắng mặt;

3.7. Anh Nguyễn Đăng K, sinh năm 1987 – Vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Thôn Cà Đú, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N.

Người đại diện hợp pháp của các anh chị: Giáng H1, V1, T4, T5, T6, K: Ông Phan H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số 46 Trần Nhân Tông, phường Thanh Sơn, thành phố P, tỉnh N (Văn bản ủy quyền cùng ngày 30/5/2017) – Có mặt.

3.8. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1950 – Có mặt;

3.9. Bà Nguyễn Thị Thúy L1, sinh năm 1960 – Có mặt;

3.10. Bà Nguyễn Thị Thúy H2, sinh năm 1963 – Vắng mặt;

3.11. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1965 – Vắng mặt;

3.12. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1970 – Vắng mặt;

3.13. Ông Nguyễn Kim P, sinh năm 1974 – Có mặt;

Cùng địa chỉ: Thôn Tân Sơn 1, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N.

3.14. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1967 – Vắng mặt;

Địa chỉ: Ấp Mới II, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đ, tỉnh L.

3.15. Ông Nguyễn Kim L2 (Mất tích năm 1975);

Người đại diện hợp pháp của các ông bà: Thúy H2, C, C1, P, Đ1: Bà Nguyễn Thị Thúy L1, sinh năm 1960; (Văn bản ủy quyền ngày 25/5/2017 và 07/7/2017) – Có mặt.

3.16. Chị Nguyễn Thị Giao U, sinh năm 1982 – Vắng mặt;

3.17. Anh Nguyễn Thành T7, sinh năm 1993 – Vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Khu phố 6, phường Bảo An, thành phố P, tỉnh N.

3.18. Ông Nguyễn Thành T8, sinh năm 1972 – Vắng mặt;

3.19. Bà Bạch Thị Hồng V2 – Vắng mặt;

3.20. Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1983 – Vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Thôn Tân Sơn 1, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N.

3.21. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh N (Vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố P: (Vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Tri T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2 trình bày:

Ông bà nội của các nguyên đơn là cố Nguyễn Văn M (chết năm 1936), cố Lê Thị S (chết năm 1976) có thuê thửa đất vườn cây ăn trái của họ Láng Mun thuộc Giáo xứ Tân Hội, tọa lạc tại thôn Tân Sơn 1, xã Thành Hải, thành phố P để sinh sống. Năm 1938, họ Láng Mun đồng ý bán thửa đất này cho cố Lê Thị S với tứ cận: Phía Đông giáp đất ông H3 và ông T9, phía Tây, phía Nam và phía Bắc giáp đường đi và ruộng của bà N. Hiện nay là các thửa 35, 36, 39 tờ bản đồ số 58 xã Thành Hải, thành phố P.

Cố Nguyễn Văn M và Lê Thị S có 07 người con ruột và một người con nuôi, đã chết 03 người con ruột và 01 người con nuôi, còn lại 04 người con ruột gồm:

1. Cụ Nguyễn Văn T10 (chết năm 2004) có 06 người con gồm: Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn N1 (chết năm 2010 – có 06 con là Thúy V1, Giáng H1, T4, T5, T6, K).

2. Cụ Nguyễn Thị B (Chết năm 2007) có 04 người con gồm: Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị K1, Nguyễn Thị H4, Nguyễn Văn H5.

3. Cụ Nguyễn Văn T11 (Chết tháng 12/2011) có 10 con gồm: Nguyễn Tri T3, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Thúy Loan, Nguyễn Thị Thúy H2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị C1, Nguyễn Kim P, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Kim L2 (mất tích ngày 04/3/1975), Nguyễn Tri P1 (Chết tháng 01/2011 – có 02 con là Nguyễn Thị Giao U và Nguyễn Thành T7).

4. Cụ Nguyễn Thị M1 (Chết năm 2011 – có 02 con gồm: Nguyễn Thị T12 (chết lúc còn nhỏ) và Nguyễn Thị M2 (sinh năm 1962, chết năm 1986 không chồng con).

Vào năm 1976 trước khi chết, cố S có nói miệng cho các con là Nguyễn Văn T10, Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn T11, Nguyễn Thị M1 thửa đất vườn cây ăn trái nay là các thửa 35, 36, 39 tờ bản đồ số 58 xã Thanh Hải. Các cụ T10, B, T11, M1 thỏa thuận giao cho cụ M1 canh tác thửa 36, còn các cụ T10, B, T11 cùng canh tác trên thửa đất 35 và 39.

Năm 1994, các cụ T10, B, T11 và ông T3 tổ chức họp gia đình. Các cụ T10, B, T11 đồng ý cho ông T3 tạm sử dụng đất và có lập giấy ủy quyền ngày 20/01/1994 được Ủy ban nhân dân xã Thanh Hải xác nhận (Bản chính do ông T3 đang quản lý). Lúc này, ông T3 làm Phó Chủ nhiệm Ban quản trị Hợp tác xã nông nghiệp Tân Sơn xã Thành Hải nên đã lợi dụng chức quyền tự ý làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 35. Năm 1996, thì phát hiện ông T3 không thông qua gia đình mà tự ý làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên các cụ T10, B, T11 yêu cầu ông T3 trả lại thửa đất 35, nhưng thực ra ông T3 đang quản lý, canh tác toàn bộ khu đất các thửa 35, 36, 39. Các bên có lập giấy lấy lại quyền canh tác ngày 14/3/1996 được Ủy ban nhân dân xã Thanh Hải xác nhận với nội dung ông T3 phải trả lại đất vào tháng 8/1997.

Năm 2012, ông T3 chuyển nhượng cho bà Bạch Thị Hồng V2 một phần diện tích thửa số 35 và năm 2016 ông T3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành T8 một phần diện tích thửa 35. Ông T8 và bà V2 đã cất nhà trên đất chuyển nhượng.

Các đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T3 trả cho các đồng nguyên đơn 1.833 m2 đất trong tổng số 5.500 m2. Đến ngày 02/6/2017 khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án buộc ông T3 trả cho các đồng nguyên đơn di sản trong các thửa 36, 39 nhưng đến ngày 22/8/2018 thì có đơn rút yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 02/6/2017.

Các đồng nguyên đơn yêu cầu được nhận đất và đề nghị giao chung cho các đồng nguyên đơn và những người thừa kế của ông N1 cùng nhau quản lý phần đất của cụ T10, không yêu cầu chia thừa kế đối với phần của cụ T10.

Bị đơn ông Nguyễn Tri T3 trình bày:

Về quan hệ huyết thống như các đồng nguyên đơn trình bày là đúng.

Về nguồn gốc đất thì sau khi cố M và cố S chết thì 04 người con của hai cố họp và phân chia di sản như sau:

Các cụ T10, B và cha ông là cụ T11 nhận thửa đất diện tích 5.400 m2 (lúc giao 5.500 m2 nhưng tới năm 1994 đo đạc còn lại 5.400 m2). Cụ M1 nhận thửa đất có diện tích 1.096 m2 và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 1985, các cụ T10, B, T11 giao đất (bằng miệng) cho ông canh tác, sau đó ông kê khai đăng ký (được sự đồng ý của các cụ T10, B, T11). Sau khi nhận đất, ông đã cải tạo, san lấp mặt bằng, trực tiếp canh tác và làm nghĩa vụ thuế với nhà nước. Vào ngày 20/01/1994, các cụ T10, B, T11 lập giấy ủy quyền cho ông sử dụng đất và chấp thuận cho ông được đăng ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cuối năm 1994 thì ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 35 diện tích 5.400 m2. Đến năm 1996, các cụ T10, B, T11 làm giấy lấy đất lại trước chính quyền địa phương, ông cũng đồng ý với điều kiện các cụ phải trả lại cho ông công san lấp, cải tạo đất nên các cụ đã từ bỏ ý định lấy lại đất. Năm 2015, ông được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 5.400 m2 xã Thành Hải.

Vào năm 2010 – 2011, ông chuyển nhượng bằng giấy tay cho bà Bạch Thị Hồng V2 120 m2 thuộc thửa 35 với giá 30.000.000 đồng. Năm 2012 ông chuyển nhượng bằng giấy tay cho ông Nguyễn Tuấn T12 100 m2 đất thửa 35 giá 40.000.000 đồng, sau đó ông T12 chuyển nhượng lại cho ông T8 nên ông T8 yêu cầu ông viết giấy chuyển nhượng trực tiếp cho ông T8 và ghi cùng ngày bán trong giấy chuyển nhượng với ông T12. Ông T8 và bà V2 đã xây nhà trên đất.

Vào năm 2015, ông và 04 người con của cụ B đã đồng ý lập văn bản giao nhận đất. Cụ thể: Ông giao lại cho 04 người con của cụ B 1.800 m2, 04 con của cụ B trả lại cho ông công san lấp, cải tạo là ½ đất = 900 m2, ông cho thêm 100 m2 nên 04 người con của cụ B nhận và canh tác 1.000 m2 thuộc một phần thửa số 35.

Đối với yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn thì ông không đồng ý vì thửa đất số 35 là của các cụ T10, B, T11 giao cho ông canh tác từ 1985 đến nay và ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các cụ có đòi lại đất nhưng không hoàn lại cho ông công san lấp, cải tạo đất và cây cối trên đất nên ông đã canh tác ổn định không có tranh chấp và năm 2015 ông đã được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với thửa đất số 39 là do vợ chồng ông khai phá và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn thửa đất số 36 thì cụ M đã lập di chúc cho con của ông là Nguyễn Tường L3 và con ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do vậy, ông T3 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Chiêu L trình bày: Bà đồng ý với ý kiến của chồng bà là ông T3. Thửa đất số 35 hiện nay bà cho ông Nguyễn Văn C2 thuê. Việc thuê đất giữa vợ chồng bà với ông C2 sẽ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Thúy L1, Nguyễn Thị Thúy H2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị C1, Nguyễn Kim P, Nguyễn Thị Đ1 trình bày: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn. Yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật di sản thừa kế thửa đất số 35 của cố M, cố S cho cha các ông bà là cụ T11 và chia phần của cụ T11 cho các thừa kế của cụ T11. Phần các ông bà được hưởng thì xin chia bằng đất để canh tác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Giao U và anh Nguyễn Thành T7 trình bày: Nếu được Tòa án chia phần, thì anh chị xin tặng cho ông T3 toàn bộ phần của anh chị được chia. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh chị.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành T8 trình bày: Ông đã xây nhà trên thửa 35 do nhận chuyển nhượng đất. Ngoài căn nhà này ông không còn nơi ở nào khác nên đề nghị Tòa án cấn trừ diện tích ông cất nhà vào phần đất của ông T3.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bạch Thị Hồng V2 không có ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C2 trình bày: Ông thuê một phần thửa đất 35 của ông T3 để trồng đu đủ thời gian thuê từ ngày 01/01/2017 đến hết năm 2020 với giá 80.000.000 đồng/4 năm. Đối với việc thuê đất thì ông tự giải quyết với ông T3, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu Tòa án chia thừa kế đất cho người khác thì ai nhận đất nơi ông có trồng đu đủ thì phải trả cho ông giá trị cây trồng trên đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P do người đại diện trình bày: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 35, thửa số 39 cho ông Nguyễn Tri T3 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tường L3 thửa đất số 36, diện tích 1.202 m2 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Thửa đất số 39 là do ông Nguyễn Tri T3 khai phá.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2018/DSST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh N đã quyết định:

Căn cứ vào các điều 215, 224, 634, 674, 675, 676, 685 Bộ luật dân sự năm 2005; Các điều 100, 203 Luật đất đai 2013; Các điều 26, 147, 165, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên bố:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc chia tài sản chung, chia thừa kế theo pháp luật và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 5.400 m2 thuộc thửa đất số 35, tờ BĐ ĐC 58, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung của các nguyên đơn đối với các thửa đất 36, 39 tờ bản đồ số 58, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N. Các đương sự có quyền khởi kiện lại trong vụ kiện khác.

Tuyên xử:

Buộc ông Nguyễn Văn C2 phải giao cho các ông bà: Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2 và những người thừa kế của ông Nguyễn Văn N1 là Nguyễn Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Giáng H1, Nguyễn Thị Mai T4, Nguyễn Thị Huyền T5, Nguyễn Thị Kim T6, Nguyễn Đăng K được quyền quản lý, sử dụng chung 1.500 m2 đất, loại đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 35, tờ BĐ ĐC 58, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N tương ứng là các điểm 20, 21, 22, 37, 38 trong Trích lục bản đồ địa chính ngày 19/9/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N.

Buộc ông Nguyễn Văn C2 phải giao cho các ông bà: Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Thúy L1, Nguyễn Thị Thúy H2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị C1, Nguyễn Kim P, Nguyễn Thị Đ1 được quyền quản lý, sử dụng chung 1.050 m2 đất, loại đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 35, tờ BĐ ĐC 58, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N tương ứng là các điểm 22, 23, 43, 42, 41, 39, 40, 37 trong Trích lục bản đồ địa chính ngày 19/9/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N.

Tạm giao cho ông Nguyễn Tri T3 quản lý, sử dụng 150 m2 đất phần của ông Nguyễn Kim L2 và ông T3 được quyền quản lý, sử dụng 150 m2 phần của chị Giao U, anh Thành T7 tặng cho. Các diện tích này ông T3 đang quản lý.

Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 374237 ngày 05/10/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho ông Nguyễn Tri T3 đối với phần diện tích 2.550 m2 thuộc thửa đất số 35, tờ BĐ ĐC 58, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N tương ứng là các điểm 20, 21, 22, 23, 43, 42, 41, 39, 40, 37, 38 trong Trích lục bản đồ địa chính ngày 19/9/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N.

Buộc bà Nguyễn Thị T bồi thường cho ông Nguyễn Văn C2 giá trị cây đu đủ là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Buộc bà Nguyễn Thị Thúy L1 bồi thường cho ông Nguyễn Văn C2 giá trị cây đu đủ là 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất; quyết định về án phí dân sự sơ thẩm; về trách nhiệm do chậm thi hành án; về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/9/2018, bị đơn ông Nguyễn Tri T3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Ông Nguyễn Tri T3 giữ nguyên kháng cáo không đồng ý chia đất cho các nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì các cụ T10, B, T11 đã đồng ý cho ông kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, chỉ nói miệng không có giấy tờ; nếu không có ông kê khai đăng ký thì đất này đã không còn là của dòng họ mà đòi chia. Khi các cụ làm giấy lấy lại đất, tôi có yêu cầu trả công sức quản lý, bồi đắp đất nhưng các cụ không nói gì nên tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trực tiếp sử dụng đất không ai tranh chấp. Nay đất có giá trị cao thì mới đòi thì tôi không đồng ý. Ông Nguyễn Văn C2 đã không còn thuê đất cách nay khoảng 01 tháng, trên đất không còn cây đu đủ nào của ông C2.

Bà Nguyễn Thị Chiêu L nhất trí ý kiến ông T3 và không đồng ý chia đất cho ai.

Các đương sự: Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2; Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Thúy L1, Nguyễn Kim P và người đại diện hợp pháp của các đương sự là ông Phan H đều không đồng ý kháng cáo của ông T3 và thống nhất theo bản án sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn C2 không có thuê đất, trên đất không còn cây đu đủ nào của ông C2.

Bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Thúy L1 và Nguyễn Kim P đều trình bày thửa 35 do cả gia đình quản lý canh tác chứ không phải một mình ông T3 canh tác, còn bà L là con dâu nên không có quyền gì trong đất này.

Kiểm sát viên có ý kiến Hội đồng xét xử phúc thẩm và đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị bác kháng cáo của ông Nguyễn Tri T3 và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tri T3 đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Các thừa kế của cụ Nguyễn Thị B đã tự thỏa thuận với ông T3 và không tranh chấp đối với phần của cụ B nên Bản án sơ thẩm không đặt ra giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Các đương sự chỉ tranh chấp thửa đất số 35, diện tích 5.400 m2 và đều thừa nhận thửa đất này có nguồn gốc của cố Lê Thị S cho các cụ Nguyễn Văn T10, Nguyễn Thị B và Nguyễn Văn T11. Ngày 20/01/1994, các cụ T10, B, T11 làm giấy ủy quyền (bút lục 67) giao thửa đất số 35 cho ông Nguyễn Tri T3 canh tác không thời hạn. Sau khi biết ông T3 tự ý kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 thì vào ngày 14/3/1996, các cụ T10, B, T11 làm giấy lấy lại quyền canh tác (Bút lục 66) và ông T3 cũng đồng ý trả thửa đất số 35 lại cho các cụ và chính ông T3 là người viết các giấy trên. Như vậy, việc ông T3 cho rằng ông đã được tặng cho và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thửa đất số 35 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông là không đúng. Mặt khác, tại Biên bản hòa giải ngày 25/9/2015 (Bút lục số 28) ông T3 cũng đồng ý nhận giá trị công sức là 200 m2 trong phần đất 5.400 m2 chia cho 3 hộ. Do đó, Bản án sơ thẩm đã xác định thửa đất số 35 thuộc quyền sử dụng chung của các cụ T10, B, T11 là có căn cứ.

[3] Vì thửa đất số 35 thuộc quyền sử dụng của các cụ T10, B, T11 nên không có căn cứ để chia phần cho cụ Nguyễn Thị M1.

Thửa đất số 35 có diện tích 5.400 m2. Các đương sự thống nhất chia công sức cho ông T3 300 m2 còn lại 5.100 m2, lẽ ra phải xác định phần của mỗi cụ T10, B, T11 là 1.700 m2 (5.100 m2/3), nhưng Bản án sơ thẩm xác định phần của cụ T10, cụ T11 1.500 m2/cụ là không chính xác và có lợi cho ông Nguyễn Tri T3, nhưng do không có kháng cáo của đương sự về phần này nên không có căn cứ để xác định lại và do đó việc ông T3 kháng cáo cho rằng ông không được trả công sức quản lý, cải tạo đất là không đúng.

[4] Các thừa kế của cụ T10 có yêu cầu được nhận đất để sử dụng chung nên Bản án sơ thẩm đã giao cho các thừa kế của cụ T10 được quyền sử dụng chung 1.500 m2 là có căn cứ.

[5] Người thừa kế của cụ Nguyễn Văn T11 có 10 người nên mỗi kỷ phần bằng 150 m2 (1.500 m2/10). Ông Nguyễn Kim L2 hiện không rõ tung tích, các thừa kế của ông Nguyễn Tri P1 đồng ý tặng phần của mình được hưởng lại cho ông T3, ông T3 cũng là một thừa kế của cụ T11, 07 người còn lại đều có yêu cầu được nhận đất sử dụng chung. Bản án sơ thẩm đã giao cho 07 thừa kế của cụ T11 được quyền sử dụng 1.050 m2, giao cho ông T3 150 m2 phần của ông P1 và tạm giao cho ông T3 150 m2 phần của ông L2 là có căn cứ.

Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tri T3, giữ nguyên Bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.

[6] Ông Nguyễn Tri T3 là người sử dụng thửa đất số 35, còn ông Nguyễn Văn C2 chỉ là người thuê đất nhưng Bản án sơ thẩm lại tuyên buộc ông Nguyễn Văn C2 phải giao đất cho những người được hưởng là không đúng, gây khó khăn cho việc thi hành án nên điều chỉnh lại cho phù hợp.

[7] Ông Nguyễn Tri T3 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về đình chỉ giải quyết đối với việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 36 và thửa đất số 39, tờ bản đồ số 58 xã Thành Hải, thành phố P; về việc bồi thường giá trị cây đu đủ; về án phí dân sự sơ thẩm; về trách nhiệm do chậm thi hành án; về nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tri T3, Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2018/DS-ST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh N.

2.1. Công nhận cho các ông bà: Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thu Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2 và những người thừa kế của ông Nguyễn Văn N1 là Nguyễn Thị Thúy V1, Nguyễn Thị Giáng H1, Nguyễn Thị Mai T4, Nguyễn Thị Huyền T5, Nguyễn Thị Kim T6, Nguyễn Đăng K được quyền sử dụng hợp pháp 1.500 m2 đất, loại đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 58, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N. Diện tích, hình thể, giáp giới, vị trí được xác định qua các mốc 20 – 21 – 22 – 37 – 38 – 20 của Trích lục bản đồ địa chính ngày 19/9/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N (Bút lục 404).

Buộc ông Nguyễn Tri T3 phải giao phần đất 1.500 m2 cho các đương sự được nêu tại tiểu mục 2.1 Quyết định này.

2.2. Công nhận cho các ông bà: Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Thúy L1, Nguyễn Thị Thúy H2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị C1, Nguyễn Kim P, Nguyễn Thị Đ1 được quyền sử dụng hợp pháp 1.050 m2 đất, loại đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 35, thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 58, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N. Diện tích, hình thể, giáp giới, vị trí được xác định qua các mốc 22 – 23 – 43 – 42 – 41 – 39 – 40 – 37 – 22 của Trích lục bản đồ địa chính ngày 19/9/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N.

Buộc ông Nguyễn Tri T3 phải giao phần đất 1.050 m2 cho các đương sự được nêu tại tiểu mục 2.2 Quyết định này.

2.3. Tạm giao cho ông Nguyễn Tri T3 quản lý, sử dụng 150 m2 đất phần của ông Nguyễn Kim L2 và công nhận cho ông T3 được quyền sử dụng hợp pháp 150 m2 phần của chị Giao U, anh Thành T7 tặng cho. Các diện tích này ông T3 đang quản lý.

2.4. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 374237 ngày 05/10/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho ông Nguyễn Tri T3 đối với phần diện tích 2.550 m2 (1.500 m2 + 1.050 m2) thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 58, xã Thành Hải, thành phố P, tỉnh N. Diện tích, hình thể, giáp giới, vị trí được xác định qua các mốc 20 – 21 – 22 – 23 – 43 – 42 – 41 – 39 – 40 – 37 – 38 – 20 của Trích lục bản đồ địa chính ngày 19/9/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N.

2.5. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích được công nhận cho mình theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Tri T3.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về đình chỉ giải quyết đối với việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 36 và thửa đất số 39, tờ bản đồ số 58 xã Thành Hải, thành phố P; về việc bồi thường giá trị cây đu đủ; về án phí dân sự sơ thẩm; về trách nhiệm do chậm thi hành án; về nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ