- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn N - Cà Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lò Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2019/HSST Ngày 17/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Triệu Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình bà Lê Thị Chanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2020 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Lò Văn N, sinh năm 1985 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con
́ ông Lò Văn N và bà Cà Thị M (đều đã chết); có vợ là Lò Thị H; bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án; tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 27/10/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích). Ngày 29/12/2013 UBND huyện Mộc Châu quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Sơn La thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 09/12/2015; Ngày 26/12/2015 UBND huyện Mộc Châu quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai thời hạn 24 tháng, hoàn thành thời gian quản lý sau cai ngày 25/10/2017. (đã được xóa tiền sự); bị bắt, tạm giam, giữ từ ngày 16/12/2019 đến nay. Có mặt.
2. Cà Văn P, sinh năm 1984 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Thái; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con
́ ông Cà Văn D (đã chết) và bà Cà Thị V; có vợ là Cà Thị T, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam, giữ từ ngày 16/12/2019 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Cà Thị T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 50 phút ngày 16/12/2019, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu Pa Khen, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu tiến hành kiểm tra xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26G1 – 084.10 do Lò Văn N điều khiển phía sau chở Cà Văn P. Qua kiểm tra phát hiện Lò Văn N đang cất giấu trong người 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. N và P khai nhận đó là gói ma túy của N và P cùng nhau đi mua mang về để cùng sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải Lò Văn N và Cà Văn P đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra xử lý. Tạm giữ của Lò Văn N 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26G1 – 084.10 và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy.
Ngày 16/12/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng số vật chứng nghi là Heroine thu giữ của Lò Văn N và Cà Văn P có khối lượng là 0,24 gam; lấy 0,16 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu ký hiệu P. Mẫu P được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy và khối lượng.
Kết luận giám định số 19 ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,16 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,24 gam, loại Heroine”.
Quá trình điều tra Lò Văn N và Cà Văn P khai nhận: Bản thân N và P là người sinh sống cùng bản và đều nghiện hút chất ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 16/12/2019, P một mình điều khiển xe máy BKS 26G1 – 084.10 đi đến nhà N chơi, qua nói chuyện N rủ P đi mua ma túy về cùng sử dụng, P đồng ý. Sau đó N mang theo 100.000 đồng và điều khiển xe máy BKS 26G1 – 084.10 chở P đi đến tiểu khu Pa Khen, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, N hỏi và mua được của người đó 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy chở P đi về. Khi N và P đang đi trên đường dân sinh thuộc tiểu khu Pa Khen, thị trấn Nông Trường Mộc Châu thì bị tổ Công tác Công an huyện Mộc Châu kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA sirius màu sơn vàng - đen, BKS 26G1 – 084.10. Quá trình điều tra xác định là tài sản chung của vợ chồng Cà Văn P, đăng ký xe máy mang tên Cà Văn P.
Cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 05/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Lò Văn N, Cà Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lò Văn N, Cà Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt các bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Xử phạt bị cáo Cà Văn P từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho gia đình bị cáo Cà Văn P, đại diện là chị Cà Thị T (là vợ bị cáo Cà Văn P): 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA sirius màu sơn vàng - đen, BKS 26G1 – 084.10 và 01 Chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 009426 mang tên Cà Văn P.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lò Văn N và Cà Văn P, bắt ngày 16/12/2019: Bên trong đựng 0,08 gam Heroine cùng mảnh nilon màu xanh, vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Lò Văn N, ngày 16/12/2019; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Cà Văn P, ngày 16/12/2019;
- Các bị cáo Lò Văn N, Cà Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lò Văn N, Cà Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, các bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc các bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định và lời khai của người chứng kiến sự viê ̣c.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 16/12/2019 Lò Văn N và Cà Văn P đã cùng nhau đi mua 0,24 gam Heroine, mục đích để cùng sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Phân hóa vai trò phạm tội của các bị cáo thấy rằng, bị cáo Lò Văn N là người khởi xướng việc mua ma túy, bỏ tiền để mua ma túy và trực tiếp cất giấu số ma túy. Bị cáo Cà Văn P là người tiếp nhận ý chí, sử dụng phương tiện của gia đình để đi mua ma túy. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm đồng phạm theo quy định tại điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân của các bị cáo thấy rằng các bị cáo có nhân thân xấu, các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma tuý. Bị cáo Lò Văn N đã từng có tiền án và tiền sự, cụ thể: Ngày 27/10/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã được xóa án tích). Ngày 29/12/2013 UBND huyện Mộc Châu quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Sơn La thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 09/12/2015; Ngày 26/12/2015 UBND huyện Mộc Châu quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai thời hạn 24 tháng, hoàn thành thời gian quản lý sau cai ngày 25/10/2017 (Đã được xóa tiền sự); Các bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cần cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA sirius màu sơn vàng - đen, BKS 26G1 – 084.10 và 01 Chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 009426 mang tên Cà Văn P. Xét thấy bị cáo P đã sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội, tuy nhiên chiếc xe máy trên là tài sản hợp pháp của bị cáo P và vợ bị cáo là chị Cà Thị T, việc bị cáo P sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy chị Cà Thị T hoàn toàn không biết, chiếc xe máy là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo P và chị Cà Thị T đều có nguyện vọng xin lại chiếc xe, do đó cần tuyên trả lại chiếc xe cho gia đình bị cáo, đại diện là chị Cà Thị T quản lý, sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lò Văn N và Cà Văn P, bắt ngày 16/12/2019: Bên trong đựng 0,08 gam Heroine là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với mảnh nilon màu xanh, vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Lò Văn N, ngày 16/12/2019; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Cà Văn P, ngày 16/12/2019; xét là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lò Văn N và Cà Văn P vào ngày 16/12/2019. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét thấy thời hạn tạm giam của các bị cáo còn lại dưới 45 ngày, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn N, Cà Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
- Xử phạt bị cáo Cà Văn P 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho gia đình bị cáo Cà Văn P, đại diện là chị Cà Thị T: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA sirius màu sơn vàng - đen, BKS 26G1 – 084.10; sm: 013643, sk: 013845, yên rách, 01 gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng cũ, không kiểm tra máy móc bên trong và 01 Chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 009426 mang tên Cà Văn P.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lò Văn N và Cà Văn P, bắt ngày 16/12/2019: Bên trong đựng 0,08 gam Heroine cùng mảnh nilon màu xanh, vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Lò Văn N, ngày 16/12/2019; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Cà Văn P, ngày 16/12/2019;
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Lò Văn N, Cà Văn P phải chi ̣u án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết bản sao bản án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THAHS; - Các bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Triệu Văn Quang |