vanban.org

Bản án 46/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 11/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào: Điểm a, b, đ khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS.

Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Đ. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H. Giữ nguyên quyết định của bản án Hình sự sơ thẩm số 58/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện QX đối với bị cáo Phạm Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Điểm a, b, đ khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2019/HSPT
Ngày: 11/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Ngô Thị Hà

Các Thẩm phán:

1. Bà Lê Thu Hương.

2. Ông Lê Quốc Thành.

-Thư ký phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 11/3/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2019/HSPT ngày 07 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Phạm Văn H và đồng bọn, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 58/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện QX, tỉnh Thanh Hóa.

Các bị cáo kháng cáo:

1. Phạm Văn H sinh năm 1986; trú tại: Thôn Thắng P, xã Quảng N, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa; văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: LĐTD; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn T và bà Lê Thị T có vợ là Nguyễn Thị N và có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã đình chỉ sinh hoạt đảng; tạm giữ ngày 10/8/2018 đến ngày 19/8/2018 TTBPNC bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Anh Đ sinh năm 1987; trú tại: Thôn Xuân M, xã Quảng N, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa; văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: LĐTD; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Xuân N và bà Đỗ Thị B; có vợ là Nguyễn Thị H và có có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ ngày 10/8/2018 đến ngày 19/8/2018 TTBPNC bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Lương Quang V sinh năm 1967; trú tại: Thôn Uy N, xã Quảng N, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa; văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: LĐTD; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lương Văn T và bà Nguyễn Thị V; có vợ là Lê Thị T và có 02 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2013 TAND huyện QX, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Đánh bạc” (số tiền phạm tội: 4.200.000đ); tạm giữ ngày 10/8/2018 đến ngày 19/8/2018 TTBPNC bằng cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h ngày 10/8/2018, Nguyễn Văn T, Lương Quang V, Phạm Văn H, Nguyễn Anh Đ, Trần Doãn Q và Hoàng Duy V đang chơi đánh bi A tại nhà Ngô Đăng D thì D rủ V, H, Đ, Q, V và T “Anh em ta làm vài ván 3 cây cầm chương đóng cái 50.000đ cho vui”. Tất cả đều đồng ý. D lại bàn bi A lấy 01 bộ bài tú lơ khơ đã cũ lọc lấy 36 cây từ A đến 9, rồi cả bọn cùng vào phòng ngủ của gia đình D ngồi xuống chiếu đã chải sẵn từ trước để đánh bài ăn tiền. Đến khoảng 22h cùng ngày thì bị Công an huyện QX phát hiện bắt quả tang, lập biên bản thu giữ tại chiếu bạc số tiền 10.700.000đ và 01 bộ bài tú lơ khơ 36 cây.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận: Trước khi đánh bạc D có 1.530.000đ, khi bị bắt dưới chiếu còn 1.400.000đ, thua 130.000đ; Đ có 1.620.000đ, khi bị bắt còn 1.460.000đ, thua 160.000đ; H có 1.720.000đ, khi bị bắt còn 1.320.000đ, thua 400.000đ; Q có 1.180.000đ, khi bị bắt tại chiếu bạc có 1.800.000đ, thắng 620.000đ; T có 1.300.000đ, khi bị bắt tại chiếu bạc có 1.760.000đ, thắng 460.000đ; V có 1.750.000đ, khi bị bắt tại chiếu bạc còn 1.510.000đ, thua 240.000đ; V có 1.600.000, khi bị bắt tại chiếu bạc còn 1.450.000đ, thua 150.000đ.

Hình thức đánh bài 3 cây cầm chương như sau: Dùng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây, lọc hết các quân bài 10, J, Q, K ra lấy 36 quân bài từ A đến 9. Khi chơi, người cầm cái sẽ chia cho mỗi người 03 cây bài để tính điểm (1 điểm là thấp nhất, cao nhất là đồng hoa tức là 3 cây bài liên tiếp cùng chất với nhau, ví dụ: 7,8,9 rô). Những người tham gia chơi đặt cược thấp nhất là 50.000đ, sau đó so điểm với nhà cái. Khi người chơi đã đặt cược xong, người cầm cái sẽ so điểm của mình với từng người chơi, nếu điểm của người chơi cao hơn điểm của nhà cái thì người chơi sẽ thắng và được số tiền mình đã đặt cược từ trước và ngược lại nếu điểm của người chơi thấp hơn điểm của nhà cái tức là người chơi thua và sẽ mất số tiền mình đã đặt cược cho nhà cái. Được thua nhà cái sẽ thanh toán tiền và kết thúc ván bài đó.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện QX, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Đăng D, Hoàng Duy V, Phạm Văn H, Nguyễn Anh Đ, Lương Quang V, Nguyễn Văn T và Trần Doãn Q phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 65 BLHS đối với bị cáo Ngô Đăng D và Hoàng Duy V.

Khoản 1,3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 65 BLHS đối với bị cáo Phạm Văn H và Nguyễn Anh Đ.

Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lương Quang V.

Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 36 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Doãn Q.

Xử phạt: Ngô Đăng D 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Hoàng Duy V 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạm Văn H 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguyễn Anh Đ 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Lương Quang V 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án trừ đi 09 ngày tạm giữ.

Nguyễn Văn T 18 tháng cải tạo không giam giữ trừ đi 18 ngày, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 17 tháng 12 ngày.

Trần Doãn Q 18 tháng cải tạo không giam giữ trừ đi 27 ngày, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 17 tháng 03 ngày.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền các bị cáo H và Đ mỗi bị cáo 10.000.000đ.

Án sơ thẩm còn quyết định về thời gian chấp hành án, thời gian thử thách, xử lý tang vật, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.

* Sau khi xét xử, các bị cáo làm đơn kháng cáo bản án, cụ thể:

Ngày 04/12/2018 bị cáo Phạm Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung.

Ngày 05/12/2018 bị cáo Nguyễn Anh Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt chính và hình phạt bổ sung.

Ngày 04/12/2018 bị cáo Lương Quang V kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo H và V vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo. Bị cáo Đ có đơn rút đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Anh Đ rút đơn kháng cáo. Bị cáo Phạm Văn H kháng cáo nhưng không xuất trình thêm được tài liệu chứng cứ nào mới so với cấp sơ thẩm đã đánh giá, xem xét. Bị cáo Lương Quang V, ngoài các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã đánh giá, xem xét thì tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình xác nhận bị cáo có anh trai là liệt sỹ, hiện đang nuôi mẹ già 95 tuổi là mẹ liệt sỹ, bị cáo là người có thời gian tham gia thanh niên xung phong. Đây là tình tiết mới tại giai đoạn phúc thẩm. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a, b, đ khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Đ; không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo H; chấp nhận kháng cáo của bị cáo V, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi trong thời hạn luật định, tại phiên tòa các bị cáo H và V vẫn giữ nguyên các nội dung kháng cáo nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với bị cáo Nguyễn Anh Đ, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện rút đơn kháng cáo nên căn cứ Khoản 1 Điều 348, Điểm đ khoản 1 Điều 355 BLTTHS đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Đ.

Xét nội dung kháng cáo:

Khoảng 22h ngày 10/8/2018 Ngô Đăng D, Nguyễn Văn T, Lương Quang V, Phạm Văn H, Nguyễn Anh Đ, Trần Doãn Q và Hoàng Duy V đang đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh bài 3 cây cầm chương tại gia đình Ngô Đăng D ở thôn Bất Động 2, xã Quảng N, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa thì bị lực lượng Công an huyện QX bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc 10.700.000đ và 01 bộ bài tú lơ khơ 36 cây.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bức xúc, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, các bị cáo cần được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng người chung.

Đối với kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H:

Sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố, mẹ là người có công với nước được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo 07 tháng tù cho hưởng án treo, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ là đã tương xứng với tính chất hành vi, mức độ phạm tội nên không cơ sở để chấp nhận kháng cáo.

Đối với kháng cáo của bị cáo Lương Quang V: Ngoài các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã đánh giá, xem xét thì tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình xác nhận bị cáo có anh trai là liệt sỹ, hiện đang nuôi mẹ già 95 tuổi là mẹ liệt sỹ, bị cáo là người có thời gian tham gia thanh niên xung phong. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới tại giai đoạn phúc thẩm. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền phạm tội ít, sau khi phạm tội ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng. Đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa là có căn cứ, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo V, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên phần hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa phương là có căn cứ, phù hợp và cũng đủ sức răn đe giáo dục và phòng ngừa chung .

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Quyết định của bản án sơ thẩm số 58/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện QX, tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo Nguyễn Anh Đ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.

Án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm b, h, g khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ án phí HSPT vì kháng cáo không được chấp nhận.

Bị cáo Lương Quang V, Nguyễn Anh Đ không phải chịu án phí HSPT.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: Điểm a, b, đ khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS.

- Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Đ.

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H. Giữ nguyên quyết định của bản án Hình sự sơ thẩm số 58/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện QX đối với bị cáo Phạm Văn H.

- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Quang V, sửa Bản án án hình sự sơ thẩm số 58/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện QX về điều luật áp dụng và biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Lương Quang V.

* Áp dụng: Khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 65 BLHS đối với bị cáo Phạm Văn H.

Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 65 BLHS BLHS đối với bị cáo Lương Quang V.

Điểm b, h, g khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

* Xử phạt:

1. Bị cáo Phạm Văn H 07 tháng tù về tội “ Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo H 10.000.000đ.

2. Bị cáo Lương QuangV 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo cho UBND xã Quảng N, huyện QX, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56BLHS.

*Quyết định của bản án sơ thẩm số 58/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện QX, tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo Nguyễn Anh Đ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ phúc thẩm.

* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

* Án phí phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ án phí HSPT.

Bị cáo Lương QuangV, Nguyễn Anh Đ không phải chịu án phí HSPT.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi gửi:

Cỡ chữ