- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành N "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 129/2019/HS-ST ngày 29/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình về áp dụng pháp luật và hình phạt.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| 1. TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 46 /2019/HS-PT Ngày: 25 - 12 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hiệp
Các thẩm phán: Bà Bùi Thị Thảo
Ông Tô Văn Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Ninh Thị Thanh Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 67/2019/TLPT - HS ngày 05 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Thành Nam do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2019/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
*Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thành N, sinh năm 1999; tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Phố T, thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn X và bà Đinh Thị N; Vợ, con chưa có.
Tiền sự: Ngày 21/12/2017 bị Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt.
Ngày 10/01/2018 bị Công an thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt 500.000 đồng về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/8/2019 đến ngày 13/8/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành N là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/8/2019, Nguyễn Thành Nam đi xe ô tô taxi từ ngã tư Hoa Đô, phường T, thành phố N sang khu vực xã Yên B, huyện Ý Y, tỉnh Đ tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi qua cầu Non Nước thuộc địa phận thôn Dinh Tần, xã Yên B, huyện Ý Y, tỉnh Nam Đ khoảng 1 km, Nguyễn Thành N bảo người lái xe ô tô taxi dựng lại cho N xuống gặp một người xe ôm hỏi chỗ mua ma túy, người này chỉ cho N một ngôi nhà ven đường cách chỗ N và người xe ốm đứng khoảng hơn 20m và nói với N mua bao nhiêu tiền thì đưa tiền qua khe cửa ngôi nhà, người trong nhà đưa ma túy cho. Sau đó N đi bộ đến ngôi nhà mà người lái xe ôm chỉ lấy 200.000 đồng đưa qua khe cửa và nói mua ma túy đá thì trong nhà có người cầm tiền rồi đưa lại cho N 01 gói ma túy có đặc điểm là túi ni lông màu trắng kích thước 1,5 x 2 cm trên miệng túi có viền màu xanh bên trong có chứa chất tinh thể mầu trắng. Mua được ma túy, N cầm ở tay phải đi ra chỗ xe taxi bảo người lái xe chở về thành phố N. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, khi về đến khu vực đường Đ, phố 6, phường Đ, thành phố N, Nguyễn Thành N bảo người lái xe taxi dừng xe để N xuống. Sau khi người lái xe điều khiển xe taxi đi thì N bị tổ công tác Công an phường Đ yêu cầu kiểm tra hành chính. Thấy vậy, N liền thả túi ma túy đang cầm ở tay phải xuống đường nhưng bị tổ công tác phát hiện yêu cầu N nhặt lên giao nộp gói ma túy và đưa Nguyễn Thành N cùng tang vật về trụ sở Công an phường Đ lập biên bản phạm tội quả tang.
Tiến hành cân xác định trọng lượng chất dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Thành N có khối lượng 0,360 gam ký hiệu M gửi đi giám định xác định loại ma túy và trọng lượng chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 263/KLGĐ-PC54-MT ngày 09/8/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể mầu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3607 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ. Cơ quan giám định hoàn lại 0,2025 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong ban đầu.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 129/2019/HS-ST ngày 29/10/2019 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Thành N 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/8/2019.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng và quyết định về án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/11/2019, bị cáo Nguyễn Thành N có đơn kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành N vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm xác định về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 129/2019/HS-ST ngày 29/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình về áp dụng pháp luật và hình phạt.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/8/2019. Bị cáo Nguyễn Thành N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành N thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Bị cáo N cũng thừa nhận Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố N đã xét xử đúng người đúng tội, không oan.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 07/8/2019, tại khu vực đường Đ thuộc phố 6, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Thành N đã có hành vi cất dấu trái phép 01 gói ma túy Methamphetamine có trọng lượng là 0,3607 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện bắt quả tang.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Thành N là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N về hình phạt:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành N đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, với lý do bản án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 21 tháng tù là quá nặng.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo đã thể hiện sự ăn năn hối cải đã xuất trình Biên lai nộp số tiền bị xứ lý vi phạm hành chính năm 2017 và 2018. Ngoài ra, gia đình bị cáo có đơn xác nhận của chính quyền địa phương gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ ốm đau thường xuyên, là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới cần được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, căn cứ vào những tình tiết giảm nhẹ mới, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2019/HS-ST ngày 29/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình về áp dụng pháp luật và hình phạt đã quyết định đối với bị cáo Nguyễn Thành N để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thành N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 129/2019/HS-ST ngày 29/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình về áp dụng pháp luật và hình phạt.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07/8/2019.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí : Bị cáo Nguyễn Thành N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 25/12/2019./.
Nơi nhận:
TM / HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Cấp Cao (01bản);
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND Cấp cao (01 bản);
- KT NV THA (02bản);
(Đã ký và đóng dấu)
- VKSND tỉnh Ninh Bình (03bản);
Nguyễn Đức Hiệp
- Phòng HSNV – Công an Ninh Bình (01bản);
- TAND TPN (03 bản);
- VKSND TPNB (01bản);
- Chi cục THA- TPN (01bản);
- Công an - TPN (01bản);
- Bị cáo (01bản);
- Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (01 bản);
- Lưu phòng HCTP (01bản);
- Lưu hồ sơ vụ án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp Cao (01bản); - VKSND Cấp cao (01 bản); - KT NV THA (02bản); - VKSND tỉnh Ninh Bình (03bản); - Phòng HSNV – Công an Ninh Bình (01bản); - TAND TPNB (03 bản); - VKSND TPNB (01bản); - Chi cục THA- TPNB (01bản); - Công an - TPNB (01bản); - Bị cáo (01bản); - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (01 bản); - Lưu phòng HCTP (01bản); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM / HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Hiệp |