- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Sa can tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________________________ Bản án số: 46/2019/HS-ST Ngày 15-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Tấn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Ngọc Cận
2. Ông Trần Vĩnh Ảnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Phương Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QXXST-HS ngày 29-5-2019 đối với bị cáo:
Thạch S, sinh năm 1993; Nơi sinh: Sóc Trăng; Nơi thường trú: Số 249 đường D, Khóm 5, Phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn D và bà Thạch Thị T; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26-4-2019 cho đến nay. (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Ông Trần Thanh T, sinh năm 1981 (vắng mặt)
2. Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Số 76/3 đường X, Khóm 3, Phường 1, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 31-01-2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy - Công an huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng kết hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Sóc Trăng bắt quả tang Trần Thanh Sơn có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại khu vực trước nhà Số 80 đường Tỉnh Lộ 934, ấp C, thị trấn M, tỉnh Sóc Trăng. Đến khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nhà của Sơn tại Số 76/23 đường X, Khóm 3, Phường 1, thành phố S, qua khám xét Cơ quan điều tra đã phát hiện thu giữ 01bịch nylon màu trắng hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng được hàn kín 02 đầu tại vị trí trên tấm la phong phía bên tay phải từ cửa phòng ngủ cách vị trí phát hiện bịch nylon là 4,2 mét trong phòng ngủ trên gác của nhà số 76/23 phòng ngủ nghi vấn là chất ma túy nên tiến hành thu giữ và niêm phong.
Tại Kết luận giám định số 13/GĐMT-PC09 ngày 03-02-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,276 gam, loại Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra - Công an huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xác định được bịch nylon màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy đá qua khám xét thu giữ được tại nhà Số 76/23 đường X, Khóm 3, Phường 1, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là của Thạch S đã cất giấu nên đã chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra Công an thành phố Sóc Trăng thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Thạch S khai nhận: Bản thân Sang có sử dụng trái phép chất ma túy từ khoảng đầu năm 2018 cho đến ngày bị bắt, loại ma túy Sang sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút. Nguồn ma túy có được để Sang sử dụng là do S cùng với những người bạn hùn tiền lại với nhau để mua ma túy từ người khác để sử dụng, cụ thể vào ngày 27-01-2019, Thạch S một mình điều xe đi xuống xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng để đi đám cưới của một người bạn, trong lúc ăn tiệc cưới thì những người ngồi cùng bàn với S nhưng không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể đã rủ S hùn tiền lại để mua ma túy sử dụng thì S đồng ý và đã đưa số tiền 100.000 đồng để hùn tiền mua ma túy, đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi những người này mua ma túy xong đã rủ S đi sử dụng ma túy, nhưng do phải đi về nhà tại thành phố S nên S không đồng ý đi sử dụng chung, lúc này một người trong nhóm hùn tiền mua ma túy đã lấy ra 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng tương đương với số tiền mà S đã hùn là 100.000 đồng để đưa lại cho S đem về sử dụng. Sau khi nhận ma túy xong, S đã lấy bịch ma túy bỏ vào túi quần phía bên phải mà S đang mặc trên người và chạy về nhà của S tại Số 249 đường D, Khóm 5, Phường 3, thành phố S. Đến ngày 31-01-2019, S một mình đi bộ đến nhà Số 76/23 đường X, Khóm 3, Phường 1, thành phố S là nhà của Trần Thanh S để dọn dẹp nhà tiếp gia đình của S, trong lúc dọn dẹp nhà thì S đi lên phòng của hai vợ chồng Trần Thanh T và Lê Thị Thanh H là em của S để sạc nhờ điện thoại di động. Trong lúc đang trên phòng của vợ chồng T, thì S nghe mọi người dưới nhà nói có Công an đến nhà để khám xét nhà, do sợ bị Công an phát hiện hành vi cất giấu ma túy nên S đã lấy bịch ma túy trong túi quần đang mặc trên người ra và dùng tay phải để bịch ma túy lên trên tấm la phông trong phòng ngủ của hai vợ chồng T nhằm cho cơ quan điều tra không phát hiện. Sau đó Cơ quan điều tra khám xét và thu giữ được 01 bịch ma túy trên tấm la phông.
Tại Cáo trạng số 45/VKS.TPST ngày 23-5-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Thạch S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c Khoản 2 của Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 13/GĐMT-PC03 ngày 03-02-2019 của PC09 có chữ ký của Giám định viên Phạm Thanh Trường S, Trợ lý giám định Phùng Thúy A và Điều tra viên Ngô Văn Nhi.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, những làm chứng ông Trần Thanh T và bà Lê Thị Thanh H vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra thì những người làm chứng nêu trên đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt của người làm chứng cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với người làm chứng nêu trên.
. Tại phiên tòa, bị cáo Thạch S đã khai nhận:
Bị cáo là người nghiện ma túy và bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2018 cho đến ngày bị bắt, loại ma túy mà bị cáo sử dụng là ma túy đá. Vào ngày 27-01-2019, khi bị cáo đang dự tiệc cưới ở xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì những người ngồi cùng bàn rủ bị cáo hùn tiền mua ma túy sử dụng thì bị cáo đồng ý rồi đưa 100.000 đồng để hùn mua ma túy. Sau khi mua ma túy xong, những người này mới rủ bị cáo cùng đi sử dụng ma túy nhưng do bận việc nên bị cáo không đồng ý thì những người này đã đưa cho bị cáo 01 bịch ma túy để đem về sử dụng, bị cáo mới bỏ bịch ma túy vào túi quần rồi đem về nhà của bị cáo tại Số 249 đường D, Khóm 5, Phường 3, thành phố S cất giấu. Đến ngày 31-01-2019, bị cáo đi đến nhà Số 76/23 đường X, Khóm 3, Phường 1, thành phố S của Trần Thanh S phụ dọn dẹp nhà, trong lúc dọn dẹp bị cáo đi lên phòng của vợ chồng Trần Thanh T và Lê Thị Thanh H là em của S để sạc nhờ điện thoại thì nghe mọi người dưới nhà nói có Công an đến nhà để khám xét nhà nên bị cáo mới cất giấu bịch ma túy trên tấm la phong trong phòng ngủ của vợ chồng anh T. Khi công an tiến hành khám xét thì phát hiện và thu giữ 01 bịch ma túy đá trên tấm la phong là của bị cáo.
. Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Đối với bị cáo Thạch S đã mua 01 bịch ma túy về cất giấu nhằm mục đích sử dụng, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,276 gam. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo là người dân tộc Khmer. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng của vụ án như sau:
Đối với 01 gói niêm phong số 13/GĐMT-PC03 ngày 03-02-2019 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt bị cáo Thạch S 01 (một) năm tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc từ ngày bắt bị cáo thi hành án hình phạt tù.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 13/GĐMT-PC03 ngày 03-02-2019 của PC09 có chữ ký của Giám định viên Phạm Thanh Trường S, Trợ lý giám định Phùng Thúy A và Điều tra viên Ngô Văn Nhi.
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố Sóc Trăng; - Công an thành phố Sóc Trăng; - CQTHAHS – Công an thành phố Sóc Trăng; - Chi cục THA Dân sự thành phố S; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIEN TÒA (Đã ký) Lâm Tấn Vinh |