vanban.org

Bản án 46/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 30/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về hình phạt chính: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Thị T và Dƣơng Thị M L phạm tội “Đánh bạc”.

*Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm r và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS: Xử phạt bị cáo Dƣơng Thị T 24(Hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Án Dương Thị Thái - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về hình phạt chính: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Thị T và Dƣơng Thị M L phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2019/HS-ST
Ngày: 30/12/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ -TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hữu và Ông Trương Văn Thành.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Vân Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Việt, Kiểm sát viên.

Hôm nay, vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 30 tháng 12 năm 2019, tại Trụ sở-Toà án nhân dân huyện Thạch Hà mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số: 38/2019/TLST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 12 năm 2019 đối với các bị cáo: 1.Họ và tên Dƣơng Thị T, sinh ngày 19/11/1971; Giới tính: Nữ. Tại xã Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Tổ dân phố 7, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 12/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Dương Văn S (đã chết) và bà Đặng Thị T, sinh năm 1936. Anh, chị em ruột: Có 09 người, bị cáo là con thứ 08 trong gia đình. Chồng: Lê Văn T, sinh năm 1971; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005). *Tiền án, tiền sự: Không. *Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa). 2. Họ và tên Dƣơng Thị M L, sinh ngày 02/9/1980; Giới tính: Nữ. Tại xã Đ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 06/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Dương Văn S (đã chết) và bà Đặng Thị T , sinh năm 1936. Anh, chị em ruột: Có 09 người, bị cáo là con thứ 09 trong gia đình. Chồng: Lê Văn H, sinh năm 1977(đã ly hôn); Con: Chưa có. *Tiền án, tiền sự: Không. *Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa). *Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1. Anh Võ Tá M, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, phường T, Tp.H, tỉnh Hà Tĩnh. (Anh M có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt) 2. Anh Lê Văn H, sinh năm 1977. (Vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ dân phố 7, thị trấn H, huyện H, Hà Tĩnh. * Người làm chứng: Ông Lê Văn H, sinh năm 1966. (Vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ dân phố 9, thị trấn H, huyện H, Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 47 phút ngày 13/9/2019, Công an huyện Thạch Hà phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính đối với Dương Thị M L khi đối tượng đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề trái pháp luật cho Võ Tá M và những người khách qua đường. Quá trình điều tra bị cáo Dương Thị M L khai nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề trái pháp luật thông qua tin nhắn điện thoại và trực tiếp ghi cho khách qua đường sau đó Dương Thị M L tập hợp các số lô, số đề của những người đánh trong ngày rồi chuyển cho Dương Thị T (là chị ruột của L) thông qua các tin nhắn điện thoại để hưởng “hoa hồng”, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 12/9/2019, Dương Thị M L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE, biển kiểm soát 37K1- 68.585 đi từ nhà mình đến nhà ông Lê Văn H ở tổ dân phố 9, thị trấn H, huyện H. Tại đây, L lấy một bộ bàn ghế bằng nhựa mang ra vỉa hè của đường L (trước cửa nhà ông H), một số tờ giấy A4 để ghi bảng đề, 01 bút bi, một số mảnh giấy nhỏ được cắt ra từ giấy kẻ ngang Hải Tiến, 01 điện thoại di động Nokia gắn thẻ sim thuê bao 0799.149.747 để phục vụ việc bán số lô, số đề trái pháp luật cho những người qua đường. Tại bảng đề ngày 12/9/2019 có các con số lô, số đề cụ thể như sau:

* Về đánh số đề: Loại 5.000 đồng đánh 06 con, tương ứng với số tiền 30.000 đồng; Loại 10.000 đồng đánh 11 con, tương ứng với số tiền 110.000 đồng; Loại 20.000 đồng đánh 07 con, tương ứng với số tiền 140.000 đồng; Loại 25.000 đồng đánh 02 con, tương ứng với số tiền 50.000 đồng; Loại 40.000 đồng đánh 01 con, tương ứng với số tiền 40.000 đồng; Loại 50.000 đồng đánh 02 con, tương ứng với số tiền 100.000 đồng; Ba càng đánh 01 con 50.000 đồng; Xiên hai, loại 100.000 đồng đánh 02 con, tương ứng với số tiền 200.000 đồng

* Về đánh số lô: Loại 02 điểm (mỗi điểm 20.000 đồng) đánh 01 số, tương ứng với số tiền 40.000 đồng; Loại 03 điểm (mỗi điểm 20.000 đồng) đánh 01 số, tương ứng với số tiền 60.000 đồng; Loại 05 điểm (mỗi điểm 20.000 đồng) đánh 13 số (65 điểm), tương ứng với số tiền 1.300.000 đồng; Loại 10 điểm (mỗi điểm 20.000 đồng) đánh 04 số (40 điểm), tương ứng với số tiền 800.000 đồng; Loại 15 điểm (mỗi điểm 20.000 đồng) đánh 01 số, tương ứng với số tiền 300.000 đồng; Loại 20 điểm (mỗi điểm 20.000 đồng) đánh 10 số (200 điểm), tương ứng với số tiền 4.000.000 đồng.

Như vậy, số tiền mà Dương Thị M L đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho những người khách qua đường ngày 12/9/2019 là 7.220.000 đồng(Trong đó, đánh đề số tiền là 720.000 đồng; Đánh lô số tiền là 6.500.000 đồng).

Sau khi tiến hành ghi các số lô, số đề đối với những người qua đường thì L tổng hợp các số lô, số đề đã ghi được trong ngày rồi dùng điện thoại di động gửi tin nhắn đến số thuê bao 0941.083.453 của Dương Thị T các số lô, số đề đã ghi trước đó để nhận tiền “hoa hồng” từ T, cụ thể:

- Tin nhắn thứ nhất: Thời gian vào lúc 17 giờ 18 phút, ngày 12/9/2019 với nội dung:

+ Về số đề: Loại 5.000 đồng gồm 06 con, tương ứng với số tiền 30.000 đồng; Loại 10.000 đồng gồm 08 con, tương ứng với số tiền 80.000 đồng; Loại 20.000 đồng gồm 02 con, tương ứng với số tiền 40.000 đồng; Loại 25.000 đồng gồm 02 con, tương ứng với số tiền 50.000 đồng; Loại 40.000 đồng gồm 01 con, tương ứng với số tiền 40.000 đồng; Loại 50.000 đồng gồm 02 con, tương ứng với số tiền 100.000 đồng; Ba càng gồm 01 con 50.000 đồng;

+ Về số lô: Loại 02 điểm gồm 01 con, tương ứng với số tiền 40.000 đồng; Loại 03 điểm gồm 01 con, tương ứng với số tiền 60.000 đồng; Loại 05 điểm gồm 06 con, tương ứng với số tiền 600.000 đồng; Loại 10 điểm gồm 02 con, tương ứng với số tiền 400.000 đồng; Loại 20 điểm gồm 10 con, tương ứng với số tiền 4.000.000 đồng.

Tổng số tiền đánh số lô, số đề mà Dương Thị M L gửi cho Dương Thị T tại tin nhắn này là 5.490.000 đồng.

- Tin nhắn thứ hai: Thời gian lúc 17 giờ 44 phút, ngày 12/9/2019 với nội dung:

+ Về số đề: Loại 10.000 đồng gồm 01 con, tương ứng với số tiền 10.000 đồng; Loại 40.000 đồng gồm 01 con, tương ứng với số tiền 40.000 đồng; Loại xiên hai 100.000 đồng gồm 02 con, tương ứng với số tiền 200.000 đồng;

+ Về số lô: Loại 05 điểm gồm 01 số, tương ứng với số tiền 100.000 đồng; Loại 10 điểm gồm 02 số, tương ứng với số tiền 400.000 đồng; Loại 15 điểm gồm 01 số, tương ứng với số tiền 300.000 đồng.

Tổng số tiền đánh số lô, số đề mà Dương Thị M L gửi cho Dương Thị T tại tin nhắn này là 1.050.000 đồng.

- Tin nhắn thứ ba: Thời gian vào lúc 17 giờ 26 phút, ngày 12/9/2019 với nội dung:

+ Về số đề: Loại 20.000 đồng gồm 02 con, tương ứng với số tiền 40.000 đồng;

+ Về số lô: Loại 05 điểm gồm 06 con, tương ứng với số tiền 600.000 đồng.

Tổng số tiền đánh số lô, số đề mà Dương Thị M L gửi cho Dương Thị T tại tin nhắn này là 640.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền thông qua 03 tin nhắn mà Dương Thị M L chuyển cho Dương Thị T trong ngày 12/9/2019 là 7.180.000 đồng (còn 40.000 đồng trong số tiền mà L ghi cho những người qua đường L không chuyển cho T). Sau khi L chuyển các số lô, số đề trong ngày 12/9/2019 cho T thì T đã thanh toán tiền “hoa hồng” cho L theo thỏa thuận từ trước (với quy định cứ mỗi một điểm lô L được T thanh toán số tiền 800 đồng; Các loại còn lại được hưởng 23% trên tổng số tiền đánh). Trong ngày 12/9/2019 Dương Thị M L đã chuyển cho Dương Thị T số tiền 7.180.000 đồng (gồm 325 điểm lô bằng 260.000 đồng và 680.000 tiền đánh đề, đánh xiên và đánh ba càng bằng 156.400 đồng). Số tiền “hoa hồng” mà Dương Thị T thanh toán cho Dương Thị M L ngày 12/9/2019 là: 416.400 đồng.

Đối chiếu với kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 12/9/2019, tại bảng lô, đề mà Dương Thị M L chuyển cho Dương Thị T có các con số lô, số đề trúng, cụ thể: Đề 10.000 đồng có 01 con, tương ứng số tiền trúng là 700.000 đồng; Lô 2 điểm có 01 con, tương ứng số tiền trúng là 140.000 đồng; Lô 5 điểm có 04 con (trong đó có 01 con trúng 02 lần), tương ứng số tiền trúng là 1.750.000 đồng; Lô loại 20 điểm có 02 con, tương ứng với số tiền trúng là 2.800.000 đồng. Tổng số tiền trúng số lô, số đề mà Dương Thị T phải trả cho các đối tượng đánh bạc trong ngày 12/9/2019 là 5.390.000 đồng, số tiền này T đã chuyển cho L để chi trả cho những đối tượng trúng số lô, số đề. Vậy, tổng số tiền mà các bị cáo T và L đánh bạc trong ngày 12/9/2019 là 12.570.000 đồng, riêng bị cáo Dương Thị M L phải chịu tang số đánh bạc ngày 12/9/2019 là 12.610.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 13/9/2019, Dương Thị M L điều khiển xe môtô nhãn hiệu AIRBLADE, biển kiểm soát 37K1- 68.585 đi từ nhà mình đến nhà ông Lê Văn H ở tổ dân phố 9, thị trấn H, huyện H. Tại đây, L lấy một bộ bàn ghế nhựa mang ra vỉa hè(trước cửa nhà ông Hải), một số tờ giấy A4 để ghi bảng đề, 01 bút bi, một số mảnh giấy nhỏ được cắt ra từ giấy kẻ ngang Hải Tiến, 01 điện thoại di động Nokia gắn thẻ sim thuê bao 0799.149.747 để phục vụ việc bán số lô, số đề, cụ thể như sau:

- Đánh bạc với Võ Tá M, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố 3, phường T, thành phố Hà Tĩnh: Do có quen và biết Dương Thị M L có ghi các số lô, số đề nên Võ Tá M đã xin số điện thoại của L để thực hiện giao dịch đánh bạc qua điện thoại di động. Khoảng 17 giờ 28 phút, ngày 13/9/2019 M dùng điện thoại di động số thuê bao 0915.330.868 gửi tin nhắn đến số thuê bao 0799.149.747 của L để đánh bạc bằng việc ghi số lô loại 20 điểm (mỗi điểm 20.000 đồng) đánh 11 số (220 điểm), tương ứng với số tiền 4.400.000 đồng. Sau khi nhận được tin nhắn của M, L nhắn lại “Ok het anh nhe!”. Nghĩa là nhận đánh bạc với Võ Tá M.

Ngoài ra, Dương Thị M L còn trực tiếp đánh bạc với những người qua đường, khi những người này đến gặp L để đánh lô, đề thì L ghi các số lô, số đề của những người này cùng số tiền tương ứng vào một mẩu giấy nhỏ, ghi ngày tháng, ký tên rồi đưa phiếu đề này cho người đánh. Đồng thời L sao chép lại các số lô, số đề đó vào tờ giấy A4. Cụ thể, trong ngày 13/9/2019 các số lô, số đề ghi trong 02 tờ giấy A4, cụ thể:

- Tại tờ giấy A4 thứ nhất (bảng đề thứ nhất) ghi: Số đề loại 10.000đ gồm 02 con, tương ứng với số tiền đánh là 20.000 đồng; Số lô loại 5 điểm gồm 02 con (10 điểm), tương ứng với số tiền 200.000 đồng. Tổng số tiền đánh số lô, số đề tại tờ bảng đề thứ nhất là 220.000 đồng;

- Tại tờ giấy A4 thứ hai (bảng đề thứ hai) ghi: Số đề kép sau, tương ứng với số tiền 140.000 đồng; Đầu 7 đánh 50.000 đồng; Đít 7 đánh 50.000 đồng; 01 số đề 50.000 đồng; Số đề loại 5.000 đồng đánh 01 con; Số lô loại 10 điểm gồm 03 con (30 điểm), tương ứng với số tiền 600.000 đồng; Số lô loại 05 điểm gồm 05 con (25 điểm), tương ứng với số tiền 500.000 đồng; Số lô loại 20 điểm gồm 01 con, tương ứng với số tiền 400.000 đồng. Tổng số tiền đánh số lô, số đề tại tờ bảng đề thứ hai là 1.795.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà Dương Thị M L đánh bạc với Võ Tá M và những người qua đường trong ngày 13/9/2019 là 6.415.000 đồng.

Sau khi ghi các số lô, số đề đối với Võ Tá M và những người qua đường thì L tổng hợp các số lô, số đề này và chuyển cho Dương Thị T để nhận tiền “hoa hồng”. Tổng số tiền đánh số lô, số đề mà Dương Thị M L gửi cho Dương Thị T tại tin nhắn trong ngày 13/9/2019 là 6.195.000 đồng. Khi nhận được các tin nhắn của L chuyển đến thì T nhắn lại cho L “Ok”.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà đã chứng M được số tiền mà các bị cáo và các đối tượng liên quan trong vụ án sử dụng vào mục đích đánh bạc cụ thể như sau: Bị cáo Dương Thị T số tiền 18.765.000 đồng, bị cáo Dương Thị M L số tiền 19.025.000 đồng, đối tượng Võ Tá M số tiền 4.400.000 đồng.

* Cách thức đánh bạc dưới hình thức đánh số đề, số lô và tỉ lệ thắng - thua như sau:

- Đánh đề: Người tham gia đánh bạc chọn một cặp số bất kỳ trong dãy số từ 00 đến 99 để đặt cược với một số tiền nhất định. Sau khi có kết quả mở thưởng của xổ số kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó, nếu cặp số người đánh bạc chọn trùng với 2 con số cuối cùng của giải đặc biệt thì người đánh đã trúng đề và được người nhận đề (chủ đề) trả tiền theo tỉ lệ đặt 1 ăn 70; Nếu cặp số mà người đánh bạc chọn không trùng với 2 con số cuối cùng của giải đặc biệt thì người đánh bị trượt đề và mất tiền cược.

- Đánh lô: Người tham gia đánh bạc chọn một cặp số bất kỳ từ số 00 đến 99 để đánh lô với một số điểm tùy thích, cứ 1 điểm lô người đánh lô phải cược cho người nhận lô 20.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó, người đánh lô đối chiếu cặp số mình chọn với 2 con số cuối cùng của 27 cặp số trong 8 giải thưởng (gồm giải đặc biệt, giải nhất đến giải bảy), nếu cặp số của người đánh lô chọn trùng với 1 trong 27 cặp số nói trên thì người đánh lô đã trúng lô và được người nhận lô trả 70.000 đồng/1 điểm. Nếu cặp số lô đã chọn trùng với 2 hoặc 3, 4 số trong 27 cặp số ở trên thì người đánh lô được tính trả theo cấp số nhân (trùng hai nhân hai, trùng ba nhân ba và trùng 4 trở lên cũng chỉ được nhân 3 dựa vào kết quả và số điểm người tham gia đánh); Nếu trong số các giải không giải nào có 2 con số cuối cùng trùng với cặp số người đánh lô chọn thì người đánh bị trượt lô và mất tiền cược.

- Đánh xiên: Gồm có xiên 2, xiên 3, xiên 4 … Ví dụ: Đánh xiên 2 thì người tham gia đánh bạc chọn 2 cặp số có 2 chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 và đặt cược. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, nếu trong 27 con số của 8 giải thưởng có 2 cặp số trùng với 2 cặp số người đánh xiên chọn thì người đó đã trúng lô xiên 2 và được người nhận xiên trả tiền theo tỉ lệ đặt 1 ăn 10 (xiên 3 tỷ lệ 1 ăn 40; xiên 4 tỷ lệ 1 ăn 100). Trường hợp trong 27 cặp số của 8 giải thưởng của xổ số kiến thiết miền Bắc không có cặp số nào trùng hay chỉ trùng được 1 số trong 2 con số đã chọn thì người đó bị trượt lô xiên 2 và mất tiền cược.

- Đánh đầu, đít: Người tham gia đánh bạc chọn các con số từ 0 đến 9 để đánh đầu hoặc đít. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, nếu số đầu hoặc đít trùng với số đầu hoặc số cuối tương ứng của giải đặc biệt thì người đánh đã trúng và được chủ đề trả tiền theo tỉ lệ đặt 1 ăn 7.

- Đánh ba càng: Người tham gia đánh bạc chọn một con số có 3 chữ số bất kỳ trong dãy số từ 000 đến 999. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, nếu con số người đánh đã chọn trùng với 3 số cuối cùng của giải đặc biệt thì người đánh đã trúng ba càng và được chủ đề trả tiền theo tỉ lệ đặt 1 ăn 350; Nếu cặp số của người đánh đã chọn không trùng với 3 số cuối cùng của giải đặc biệt thì người đánh không trúng ba càng và mất tiền cược.

Vật chứng thu giữ bao gồm: 06 tờ giấy A4 (gọi là bảng đề); 01 tờ giấy kẻ ngang "Hải Tiến" có ghi ngày 10/9/2019; 01 bút bi màu xanh, nhãn hiệu M&G; Tiền Việt Nam đồng: 220.000 đồng, tiền bán số lô, số đề; 01 bàn, 01 ghế nhựa nhãn hiệu Song Long, màu đỏ thẫm; 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE, biển kiểm soát 37K1-68.585, màu sơn đỏ-đen; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia X2-01 màu đỏ-đen, số IMEI: 357391/04/952088/7, bên trong có gắn thẻ sim có số thuê bao 0799.149.747. Tạm giữ của bị cáo Dương Thị M L số tiền 11.805.000 đồng.

Ngoài ra, cơ quan Công an huyện Thạch Hà còn tạm giữ của Võ Tá M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có gắn thẻ sim, số thuê bao 0915.330.868; Tạm giữ của Dương Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có gắn thẻ sim, số thuê bao 0941.083.453. Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà cũng đã truy thu từ bị cáo Dương Thị T số tiền 7.180.000 đồng; Truy thu từ bị cáo Dương Thị M L số tiền 7.641.400 đồng; Truy thu từ Võ Tá M số tiền 4.400.000 đồng.

Tạm giữ của bị cáo Dương Thị M L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE, màu sơn đỏ-đen, biển kiểm soát 37K1-68.585 đây là phương tiện mà Dương Thị M L sử dụng để đi ghi lô, đề.

Đến ngày 04/12/2019, cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà đã chuyển toàn bộ số vật chứng này đến cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà bảo quản và xử L theo quy định.

Bản cáo trạng số 39/CT-VKSTH, ngày 29/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố các bị cáo Dương Thị T và Dương Thị M L về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân các bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo Dương Thị T từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Dương Thị T cho Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Bị cáo T nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập lại không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cá nhân cho bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Khoản 1, 3 Điều 35; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm n, r và s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS xử phạt bị cáo Dương Thị M L từ 30 đến 35 triệu đồng.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35, khoản 3 Điều 321 BLHS phạt tiền đối với bị cáo Dương Thị T từ 15 đến 20 triệu đồng. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bút bi mực màu xanh, 03 chiếc thẻ sim điện thoại di động, 01 bàn nhựa và 01 ghế nhựa nhãn hiệu Song Long; Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 03 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 19.441.400. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37K1-68.585 chưa xác M được chủ sở hữu nên đề nghị chuyển cho Cơ quan Công an huyện Thạch Hà tiếp tục xác M xử L theo quy định pháp luật. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tại phiên tòa về phần hình phạt đối với các bị cáo Dương Thị M L và Dương Thị T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Thị T và Dương Thị M L không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và thừa nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng.

Bị cáo Dương Thị T nói lời nói sau cùng: Kính thưa HĐXX bị cáo biết hành vi của mình đã thực hiện là sai trái, vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái.

Bị cáo Dương Thị M L nói lời nói sau cùng: Kính thưa HĐXX do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có nghề nghiệp lại đang phải chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ già. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét tạo cho bị cáo một cơ hội để bị cáo có điều kiện được chăm sóc nuôi dưỡng mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay các bị cáo Dương Thị T và Dương Thị M L khai nhận: Trong các ngày 12 và 13/9/2019, các bị cáo đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với khách qua đường và Võ Tá M. Trong đó, bị cáo L là người trực tiếp ghi lô, đề cho những người chơi rồi chuyển toàn bộ số lô, đề này cho bị cáo T để nhận tiền “hoa hồng”. Số tiền mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc chứng M được là: Bị cáo Dương Thị M L số tiền 19.025.000 đồng, bị cáo Dương Thị T số tiền 18.765.000 đồng. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án

Các bị cáo Dương Thị T và Dương Thị M L là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi ghi lô, đề là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đối với các bị cáo Dương Thị T và Dương Thị M L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.

. Xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy rằng hành vi của các bị cáo tuy ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Lô đề, cờ bạc đã và đang là một tệ nạn gây nhiều bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường, hạnh phúc của nhiều gia đình nhưng chỉ vì lợi nhuận trước mắt mà các bị cáo đã phạm tội. Trong vụ án này bị cáo T giữ vai trò chính, bị cáo L là người thực hành, tuy đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội chỉ phạm tội mang tính chất vụ việc. Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử L bằng luật hình sự mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo Hội đồng xét xử cũng cần phải xem xét, cân nhắc: Bởi sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có bố, mẹ có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, đã tự nguyện khai báo các hành vi phạm tội trước đó, tự nguyện nộp lại số tiền sử dụng đánh bạc và tiền thu lợi bất chính, nhân thân tốt từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội. Đối với bị cáo T bản thân có nơi cư trú ổn định rõ ràng, việc cho bị cáo cải tạo địa phương không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Do vậy, xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương là phù hợp. Bị cáo T nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập lại không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Còn bị cáo Dương Thị M L thời điểm phạm tội bị cáo đang mang thai, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang phải chăm sóc nuôi dưỡng mẹ già. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vì vậy đối với bị cáo chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ nghiêm.

.Về xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khai báo các hành vi phạm tội trước đó, gia đình có bố, mẹ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, đã tự nguyện nộp lại số tiền sử dụng dụng vào việc phạm tội và tiền thu lợi bất chính, bị cáo L thời điểm phạm tội đang mang thai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, r và s và khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo L đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Còn bị cáo T xét thấy cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện tính nghiêm M của pháp luật.

.Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Qúa trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà đã thu giữ: 06 tờ giấy A4 (gọi là bảng đề); 01 tờ giấy kẻ ngang "Hải Tiến" có ghi ngày 10/9/2019; 01 bút bi màu xanh, nhãn hiệu M&G; Tiền Việt Nam đồng: 220.000 đồng, tiền bán số lô, số đề; 01 bàn nhựa, 01 ghế nhựa nhãn hiệu Song Long, màu đỏ thẫm; 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE, biển kiểm soát 37K1-68.585, màu sơn đỏ-đen; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia X2-01 màu đỏ-đen, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0799.149.747 (tất cả các vật chứng này thu giữ của bị cáo Dương Thị M L); Thu giữ của Võ Tá M 01 điện thoại di động hiệu Nokia có gắn thẻ sim số thuê bao 0915.330.868; Tạm giữ của Dương Thị T 01 điện thoại di động gắn thẻ sim có số thuê bao 0941.083.453. Cơ quan điều tra đã truy thu từ các bị cáo và đối tượng liên quan với tổng số tiền là 19.221.400đ.

Hội đồng xét xử xét thấy rằng đối với các vật chứng thu giữ gồm: 06 tờ giấy A4 (gọi là bảng đề); 01 tờ giấy kẻ ngang "Hải Tiến" có ghi ngày 10/9/2019 dùng làm phiếu đề, xác định đây là các tài liệu, chứng cứ nên được bảo quản cùng hồ sơ vụ án. Đối với 01 bút bi mực màu xanh, nhãn hiệu M&G; 01 bàn nhựa, 01 ghế nhựa nhãn hiệu Song Long, màu đỏ thẫm; 03 chiếc thẻ sim điện thoại di động có số thuê bao là: 0799.149.747; 0915.330.868; 0941.083.453, xác định đây là các công cụ, phương tiện mà các bị cáo và đối tượng Võ Tá M sử dụng vào việc phạm tội nhưng xét thấy các vật chứng này không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. Các vật chứng gồm 03 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, xác định đây là các công cụ, phương tiện mà các bị cáo và đối tượng Võ Tá M sử dụng vào mục đích phạm tội, vì vậy cần tịch thu hóa giá, nộp ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa bị cáo Dương Thị M L khai đã chi trả số tiền 5.390.000đ cho những người trúng lô, đề vào ngày 12/8/2019 nhưng bị cáo không chứng M được đã trả cho ai, địa chỉ ở đâu nên không có căn cứ chấp nhận. Vì vậy, đối với số tiền 19.441.400đ, trong đó có 416.400đ tiền thu lợi bất chính và 19.025.400đ tiền mà các bị cáo và các đối tượng liên quan sử dụng vào mục đích đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE, biển kiểm soát 37K1-68.585, màu sơn đỏ-đen mà bị cáo Dương Thị M L khai mượn của một người bạn tên Nguyễn Hoàng Long, sinh năm 1975 trú tại phường Thạch Linh, thành phố Hà Tĩnh để sử dụng làm phương tiện đi lại. Qua kết quả điều tra, xác M thì trên địa bàn phường Thạch Linh không có công dân nào tên là Nguyễn Hoàng Long; Hơn nữa chiếc xe này cũng không có giấy tờ hợp pháp theo quy định. Vì thế, nên ngày 10/4/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà ra quyết định trưng cầu giám định số khung, số máy nguyên thủy của chiếc xe mô tô này để xác định chủ sở hữu. Tại bản kết luận giám định số 247/PC09-KTHS ngày 16/10/2019 của phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận số khung, số máy nguyên thủy của xe mô tô biển kiểm soát 37K1-68.585: Số khung RMVWCJ4MV61007896, Số máy VZS 154FMJ 007896.

Ngày 29/10/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà có Công văn số 312/CV-CSĐT gửi Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Tĩnh về việc xác M chủ đăng ký hợp pháp của chiếc xe mô tô trên. Theo kết quả trả lời tại Phiếu trả lời xác M phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 31/10/2019 của phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Tĩnh thì chiếc xe này là của chị Lê Thị Hoa, sinh 1976; trú tại tổ 8, phường T, thành phố Hà Tĩnh. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác M thì hiện tại chị Lê Thị Hoa không bị mất xe, chiếc xe mô tô mà chị đang quản L, sử dụng có nhãn hiệu AIRBLADE nhưng biển kiểm soát là 38P1- 299.48. Vì thế đối với chiếc xe này cần chuyển cho cơ quan Công an huyện Thạch Hà tiếp tục điều tra, xác M làm rõ và xử L theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này ngoài các bị cáo Dương Thị T và Dương Thị M L đã bị truy tố và xét xử còn có đối tượng Võ Tá M cùng tham gia đánh lô đề với các bị cáo, tuy nhiên số tiền mà M sử dụng vào việc đánh bạc dưới mức 5.000.000đ, hơn nữa đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính(phạt tiền) đối với Võ Tá M là phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, bị cáo Dương Thị T khai nhận sau khi nhận bảng số lô, số đề từ bị cáo Dương Thị M L thì T đã chuyển tiếp bảng đề cho Lê Văn H, sinh năm 1977, trú tại: Tổ dân phố 7, thị trấn H, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh qua số điện thoại 0358.518.309. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà đã tiến hành làm việc và cho đối chất giữa bị cáo T và Lê Văn H nhưng H không thừa nhận việc này. Mặt khác, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà cũng không có tài liệu, chứng cứ để chứng M hành vi phạm tội của Lê Văn H nên không đủ căn cứ để xem xét xử L trách nhiệm hình sự đối với Lê Văn H.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về hình phạt chính: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Thị T và Dƣơng Thị M L phạm tội “Đánh bạc”.

*Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm r và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS:

- Xử phạt bị cáo Dƣơng Thị T 24(Hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 75 của Luật Thi hành án hình sự.

*Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Khoản 1, 3 Điều 35; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm n, r và s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS:

- Xử phạt bị cáo Dƣơng Thị M L 30.000.000đ(Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo thực hiện việc nộp tiền phạt một lần trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

[2].Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35; Khoản 3 Điều 321 BLHS phạt bổ sung bị cáo Dương Thị T số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

[3]. Về xử L vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) bút bi nhãn hiệu Thiên Long; 03(Ba) thẻ sim điện thoại di động(trong đó thu giữ từ bị cáo L 01 thẻ sim có số thuê bao là: 0799.149.747; Thu giữ từ bị cáo T 01 (Một) thẻ sim có số thuê bao là: 0941.083.453; Thu giữ từ Võ Tá M 01(Một) thẻ sim có số thuê bao là: 0915.330.868); 01 (Một) chiếc bàn nhựa và 01(Một) chiếc ghế nhựa nhãn hiệu “Song Long”(Thu giữ từ bị cáo L)

- Tịch thu hóa giá, nộp ngân sách Nhà nước các tài sản sau: 03(Ba) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia(trong đó thu giữ từ bị cáo T và L mỗi bị cáo 01(Một) máy điện thoại di động; Thu giữ từ Võ Tá M 01(Một) máy điện thoại di động).

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 19.441.400đ (Mười chín triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm đồng);

*Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIRBLADE, biển kiểm soát 37K1-68.585, màu sơn đỏ-đen, có số khung: RMVWCJ4MV61007896, số máy VZS 154FMJ 007896 chuyển cho cơ quan Công an huyện Thạch Hà tiếp tục điều tra, xác M làm rõ và xử L theo quy định của pháp luật.

(Đặc điểm, tình trạng tang vật có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/12/2019 và Giấy ủy nhiệm chi lập ngày 03/12/2019 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh)

[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử buộc các Dương Thị T và Dương Thị M L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ