- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sừng Pó C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sừng Pó C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2019/HS-ST Ngày 26/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Xuân Phùng
2. Bà Ly Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 11 năm 2019 đối với.
Bị cáo Sừng Pó C sinh năm 1977 tại Bản Leng Su Sìn, xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Leng Su Sìn, xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Hà Nhì; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sừng Go X (đã chết) và con bà Vàng Chừ D sinh năm 1960; có vợ là Lỳ Mỳ H sinh năm 1977 và 03 con; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo Sừng Pó C bị bắt tạm giữ từ ngày 01 tháng 10 năm 2019 đến ngày 04 tháng 10 năm 2019, được tại ngoại, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go Lòong – luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Điện Biên thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 01 tháng 10 năm 2019, bị cáo Sừng Pó C đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc H Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu vào nhà chơi và hỏi bị cáo có mua thuốc phiện không ? . Bị cáo Sừng Pó C bảo bán cho một gói nhỏ thuốc phiện với số tiền là 100.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo Sừng Pó C không biết, còn bị cáo cất số thuốc phiện đó vào trong túi áo đang mặc trên người. Đến khoảng 14 giờ 15 phút ngày 01 tháng 10 năm 2019, khi bị cáo Sừng Pó C lấy số thuốc phiện và bộ bàn đèn tự tạo ra để sử dụng hút thuốc phiện tại nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Sau đó đưa về Công an huyện Mường Nhé để làm rõ.
Ngày 02 tháng 10 năm 2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng thuốc phiện thu giữ của Sừng Pó C là 04 (bốn) gam. Tại bản kết luận giám định số: 957/GĐ-PC09 ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen khối lượng 1,3 gam gửi giám định của Sừng Pó C là thuốc phiện không hoàn lại. Tổng khối lượng 04 (bốn) gam thu được của Sừng Pó C là thuốc phiện.
Bản cáo trạng số: 46/CT-VKSMN ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Sừng Pó C để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt bị cáo Sừng Pó C từ 15 đến 20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106; Điều 136 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Sừng Pó C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Ông Pờ Go Lòong cho rằng bị cáo Sừng Pó C thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Về tội danh không có ý kiến gì. Tình tiết giảm nhẹ trong vụ án đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét xử phạt cho bị cáo Sừng Pó C mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội bị cáo thì thấy: Lời khai nhận bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 01 tháng 10 năm 2019, tổ công tác Công an huyện Mường Nhé làm nhiệm vụ tại khu vực bản Leng Su Sìn, xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang Sừng Pó C đang cầm trên tay phải thu giữ được 01 (một) gói nhỏ thuốc phiện là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 04 gam thuốc phiện nhằm mục đích để sử dụng của Sừng Pó C đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thì thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thì thấy: Bị cáo Sừng Pó C sinh ra và lớn lên ở bản Leng Su Sìn, xã Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không được đị học, sau đó ở nhà phụ giúp gia đình. Ngày 08 tháng 12 năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xử phạt 33 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Trốn khi đang bị dẫn giải” chấp hành án xong. Ngày 24 tháng 9 năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xử phạt 28 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành án xong trở về địa phương làm ăn sinh sống. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Sừng Pó C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Sừng Pó C từ 15 đến 20 tháng tù. Xét thấy đề nghị này của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần xem xét, xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát.
Ông Pờ Go Lòong về tình tiết giảm nhẹ trong vụ án đề nghị áp dụng theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự có căn cứ áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét xử phạt cho bị cáo Sừng Pó C mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù phù hợp; Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên cần áp dụng.
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo còn nhiều khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Đối với đối tượng người đàn ông dân tộc H Mông bán thuốc phiện, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi địa chỉ ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với khối lượng 2,7 gam thuốc phiện còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, thành viên hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa; người bào chữa đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại hoặc ý kiến gì.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Sừng Pó C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xử phạt bị cáo Sừng Pó C: 18 ( Mười tám) tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ là 03 ( ba) ngày. Bị cáo Sừng Pó C còn phải chấp hành án là: 17 tháng 27 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án tại trại.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a; c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy:
- Tịch thu tiêu huỷ khối lượng: 2,7 gam thuốc phiện là vật chứng vụ án Sừng Pó C. - 01 (một) bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 11 năm 2019 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Sừng Pó C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Phòng KTNV-THA Tòa án tỉnh Điện Biên;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Mường Nhé;
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Nhé;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Nhé;
- Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Nhé;
- Bị cáo; Người bào chữa;
- Chi cục THADS huyện Mường Nhé;
- Phòng Hành chính Sở Tư pháp;
- Lưu HS, HSTHA.
Giàng A Bách
Các thành viên
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Nhé; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Nhé; - Bị cáo; Người bào chữa; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. Các thành viên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |