vanban.org

Bản án 46/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 23/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Công T 24 (hai bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2019/HS-ST
Ngày: 23-4-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Đình Nhân

2. Bà Đinh Thị Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành T - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 22 và ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2019/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Công T, sinh năm 1987 tại Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT: 2/2 Quang Trung, phường 9, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: Số nhà 93, thôn Tân Trung, xã T, Huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân Tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phê và bà Trần Thị Tuyết; Vợ: Trần Thị Hạnh, sinh năm 1992; con: có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 18/12/2018 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Huyện Đ. Có mặt

* Ngƣời bị hại:

- Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1966

Trú tại: 22 Nguyễn Văn Linh, L, Đ, Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1984

Trú tại: Hẻm 915, Quốc lộ 20, L, Đ, Lâm Đồng. Có mặt

* Nguyên đơn dân sự:

- Công ty cổ phần tập đoàn M.

Địa chỉ: 186 Phạm Ngọc Thạch, phường 6, thành phố Đ, Lâm Đồng.

Đại diện theo ủy quyền ông Lưu Thắng L, sinh năm 1986 theo văn bản ủy quyền ngày 23/10/2018. Có mặt

- Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ.

Địa chỉ: Lô Thanh Thanh, tổ 16, L, Đ, Lâm Đồng

Đại diện theo ủy quyền ông Lê Văn H, sinh năm 1980 theo văn bản ủy quyền ngày 23/4/2019. Có mặt

* Ngƣời có quyền liên, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Bá H, sinh năm 1977

Trú tại: Thôn Tân Trung, xã T, Đ, Lâm Đồng. Có mặt

- Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1974

Trú tại: 06 Kim Đồng, L, Đ, Lâm Đồng. Có mặt

- Ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1991

Trú tại: R’ Chai 2, P, Đ, Lâm Đồng. Có mặt

- Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990

Trú tại: 1133 Quốc lộ 20, L, Đ, Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Lê Hoài Đức, sinh năm 1980

Trú tại: 22/7 Cô Bắc, tổ 12, L, Đ, Lâm Đồng. Có mặt

- Ông Trần Anh K, sinh năm 1983

Trú tại: R’ Chai 2, P, Đ, Lâm Đồng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 24/09/2018 Trần Công T có Giấy phép lái xe hạng A1, B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 22/10/2013 có giá trị đến ngày 22/10/2023 đã thuê xe Ford Everet BKS: 49A-084.42 hợp đồng thuê xe giá 1.200.000 đồng/ngày để chở bố vợ là ông Trần Xuân T đi cấp cứu tại trạm xá xã P. Sau đó Trần Công T điều khiển xe ô tô BKS: 49A-084.42 về nhà. Đến khoảng 15h30 Trần Công T điều khiển xe ô tô BKS: 49A-084.42 một mình từ T – Đ mục đích đến Garage Cảnh xem việc sửa xe của mình xong chưa. Đến khoảng 16h00 cùng ngày Trần Công T điều khiển xe ô tô BKS: 49A-084.42 di chuyển hướng Di Linh – Đ đến Km200 Quốc lộ 20, thị trấn L, Huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng trước cửa Công ty P do không làm chủ tốc độ, không làm chủ phương tiện, thiếu chú ý quan sát nên đã tông vào đuôi xe ô tô tải BKS: 49C-104.38 do ông Vũ Văn Đ điều khiển cùng chiều phía trước làm cho xe ô tô BKS: 49C-104.38 mất lái tông vào xe mô tô BKS: 49E1-51473 do Nguyễn Văn H điều khiển ngược chiều. Sau đó xe ô tô BKS: 49A-084.42 do Trần Công T điều khiển lao vào lề đường bên phải tông vào 05 xe ô tô taxi đang đỗ trước bến xe P gồm: Xe ô tô BKS: 49A-170.60 do Nguyễn Đình H điều khiển, xe ô tô BKS: 49A-113.67 do Nguyễn Trung K điều khiển, xe ô tô BKS: 49A-097.16 do Nguyễn Thị Thanh T điều khiển, xe ô tô BKS: 49A-123.28 do Lê Hoài Đ điều khiển và xe ô tô BKS: 49A-216.46 do Trần Anh K điều khiển.

Hậu quả 06 (sáu) xe ô tô gồm: xe ô tô BKS: 49C-104.38; xe ô tô BKS: 49A-170.60; xe ô tô BKS: 49A-113.67; xe ô tô BKS: 49A-097.16; xe ô tô BKS: 49A-123.28; xe ô tô BKS: 49A-216.46 và xe mô tô BKS: 49E1-51473 bị hư hỏng, ông Nguyễn Văn H bị thương.

Kết luận pháp y số: 336/2019/KLPY ngày 02/01/2019 của Trung T pháp y tỉnh Lâm Đồng xác định Nguyễn Văn H bị thương tích 19%.

Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự số 108 ngày 13/11/2018 xác định tổng giá trị thiệt hại là 234.047.000 đồng. Trong đó xe ô tô BKS: 49C-104.38 thiệt hại 19.680.000 đồng; xe ô tô BKS: 49A-170.60 thiệt hại 53.360.000 đồng; xe ô tô BKS: 49A-123.67 thiệt hại 52.674.000 đồng; xe ô tô BKS: 49A-097.16 thiệt hại 11.250.000 đồng; xe ô tô BKS: 49A-216.46 thiệt hại 11.925.000 đồng; xe ô tô BKS: 49A-123.28 thiệt hại 66.208.000 đồng; xe mô tô BKS: 49E1-514.73 thiệt hại 18.950.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 07 ( bảy ) xe ô tô gồm: xe ô tô BKS: 49A-084.42; xe ô tô BKS: 49C-104.38; xe ô tô BKS: 49A-170.60; xe ô tô BKS: 49A-113.67; xe ô tô BKS: 49A-097.16; xe ô tô BKS: 49A-123.28; xe ô tô BKS: 49A-216.46 và xe mô tô BKS: 49E1-51473 cùng các giấy tờ liên quan, sau khi tiến hành khám nghiệm phương tiện đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại, nguyên đơn dân sự và không ai có ý kiến, yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quá trình điều tra bị can Trần Công T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 12/CT - VKS ngày 01 tháng 3 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử bị cáo: Trần Công T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo Trần Công T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Đ nghị áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Trần Công T từ 02 đến 03 năm tù.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận T bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Công T đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 24/9/2018 bị cáo điều khiển xe ô tô BKS: 49A-084.42 di cHển hướng Di Linh – Đ đến Km200, Quốc lộ 20, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng trước cửa Công ty P do không làm chủ tốc độ, không làm chủ phương tiện, thiếu chú ý quan sát nên đã tông vào đuôi xe ô tô tải BKS: 49C-104.38 do ông Vũ Văn Đ điều khiển cùng chiều phía trước làm cho xe ô tô BKS: 49C-104.38 mất lái tông vào xe mô tô BKS: 49E1-51473 do Nguyễn Văn H điều khiển ngược chiều. Sau đó xe ô tô BKS: 49A-084.42 do bị cáo điều khiển lao vào lề đường bên phải tông vào 05 xe ô tô taxi đang đỗ trước bến xe P gồm: Xe ô tô BKS: 49A-170.60 do Nguyễn Đình H điều khiển, xe ô tô BKS: 49A-113.67 do Nguyễn Trung K điều khiển, xe ô tô BKS: 49A-097.16 do Nguyễn Thị Thanh T điều khiển, xe ô tô BKS: 49A-123.28 do Lê Hoài Đ điều khiển, xe ô tô BKS: 49A-216.46 do Trần Anh K điều khiển. Hậu quả vụ tai nạn giao thông theo kết luận pháp y số: 336/2019/KLPY ngày 02/01/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng xác định Nguyễn Văn H bị thương tích 19% và kết luận định giá tài sản số 108 ngày 13/11/2018 xác định tổng giá trị thiệt hại tài sản là 234.047.000 đồng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện: Bị cáo Nguyễn Công T là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, tuy nhiên do điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ, không làm chủ phương tiện, thiếu chú ý quan sát nên gây tai nạn giao thông, hậu quả làm anh Nguyễn Văn H bị tỷ lệ thương tật là 19%, gây thiệt hại về tài sản là 234.047.000đ. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm sức khỏe, gây thiệt hại về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại, nguyên đơn dân sự có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại, nguyên đơn dân sự đã được khắc phục toàn bộ hậu quả và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích nhận định trên nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương theo dõi, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015.

Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Công T 24 (hai bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa sau khi tuyên án nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trần Công T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ