- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Hữu T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố, bị cáo Đỗ Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2018/HSST Ngày: 16/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nghi, ông Vũ Hoàng Tập.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đ ng Khắc C ng - Là Th ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn H ng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2018/TLST-HS, ngày 29 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 48/2018/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 7 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Hữu T; sinh ngày 15/10/1982; nơi sinh: Đ ng Nai; nơi đăng ký th ng trú và c tr : Khu phố X, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đ ng Nai; văn h a: 02/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Đỗ Văn Đ, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957; hiện tr tại thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đ ng Nai; bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình c ba chị em; vợ là Lê Thị Ngọc H1, sinh năm 1982, hiện tr tại thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đ ng Nai; bị cáo c 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 08/06/2016 bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đ ng Nai xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; chấp hành xong hình phạt ngày 15/04/2017, (ch a đ ợc xoá án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/02/2018, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Bảo Lộc, (C m t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 gi 15 ph t ngày 26/02/2018, tại phòng số 08 nhà nghỉ Ngọc Vy địa chỉ 134 Quốc lộ 20, thôn Tân H a, xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc, Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc phát hiện bắt quả tang Đỗ Hữu T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y. Tang vật thu giữ g m 02 g i nilon hàn kín, kích th ớc lần l ợt là (2,5x02) cm và (03x03)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, đ ợc T giấu trong t i quần phía sau bên phải (đang m c trên ng i).
Quá trình điều tra T khai nhận, do bản thân nghiện ma t y nên tr ớc khi bị bắt khoảng 04 ngày, T đến khu vực cầu Sài Gòn, thuộc địa bàn Quận 2, thành phố H Chí Minh, mua của đối t ợng tên H2 (không rõ lai lịch) số tiền 1.000.000đ ma túy, mục đích để sử dụng. Sau đ T mang số ma t y trên về nhà tại huyện Tr, tỉnh Đ ng Nai sử dụng đ ợc 02 lần. Vào ngày 26/02/2018, T mang số ma t y còn lại cùng với vợ là Lê Thị Ngọc H1 đi lên thành phố Đà Lạt chơi, khi vào nhà nghỉ Ngọc Vy để nghỉ qua đêm thì bị bắt.
Theo kết luận giám định ngày 01/03/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đ ng thì mẫu tinh thể đựng trong 02 g i nilon đ ợc niêm phong gửi giám định là ma tuý, c khối l ợng 2,5448g loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSBL, ngày 28 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố cáo bị cáo Đỗ Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khỏan 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Đỗ Hữu T từ 24 đến 30 tháng tù.
Bị cáo T khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đ ng nh Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, thấy đ ng với tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không c ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng i tiến hành tố tụng. Hội đ ng xét xử thấy rằng, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ng i tiến hành tố tụng đã thực hiện đ ng qui định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Vào ngày 26/02/2018, Cơ quan điều tra bắt quả tang bị cáo Đỗ Hữu T có hành vi tàng trữ trái phép 2,5448g Methamphetamine (còn gọi là ma t y đá), tại nhà nghỉ Ngọc Vy, địa chỉ số: 134 Quốc lộ 20, xã Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc. Đối chiếu l i khai của bị cáo, nhân chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, c căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo c đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”, tội phạm và hình phạt đ ợc qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét tính chất hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi th ng kỷ c ơng pháp luật. Hành vi trên không những xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà n ớc về chất ma t y mà còn gây mất trật tự trị an tại địa ph ơng, g p phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố Bảo Lộc. Về nhân thân thì năm 2016 bị cáo đã bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đ ng Nai xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, vừa chấp hành xong hình phạt, ch a đ ợc x a án lại phạm tội; vì vậy cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc mới c tác dụng giáo dục. Tuy nhiên cũng thấy rằng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
[4 Trong vụ án này còn c đối t ợng tên H2 đã bán ma t y cho bị cáo, tuy nhiên quá trình điều tra ch a xác định đ ợc nhân thân lai lịch của tên H2, vì vậy cần tách ra khi nào xác minh làm r s xử lý sau.
Đối với Lê Thị Ngọc H1 (là vợ bị cáo T), đã cùng đi chơi và ở chung phòng với bị cáo T; tuy nhiên H1 không biết bị cáo T tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy 02 phong bì tang vật niêm phong sau giám định mang số 534/2018/PC54, 02 chiếc nỏ thủy tinh; trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Đỗ Hữu T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia màu vàng.
Ngoài ra khi bắt bị cáo T, Cơ quan điều tra còn phát hiện Lê Thị Ngọc H1 là ng i c liên quan đến một số vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Bảo Lộc; vì vậy Cơ quan điều tra đã thu giữ của đối t ợng H1 một số đ vật, tài sản (mà bị cáo T đã khai nhận tại phiên tòa ngày 24/7/2018). Do hiện nay Cơ quan điều tra đang tiến hành điều tra làm r hành vi của H1 và đ ng phạm, vì vậy cần tách ra, khi nào làm r s xử lý theo qui định của pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố, bị cáo Đỗ Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khỏan 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Đỗ Hữu T 30 (Ba mươi) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 26/02/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy 02 phong bì tang vật niêm phong sau giám định mang số 534/2018/PC54, 02 chiếc nỏ thủy tinh; trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Đỗ Hữu T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia màu vàng.
(Theo biên bản giao nhận các ngày 29/6/2018 và 31/7/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bảo Lộc với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo c quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đ ng xét xử ph c thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đ ng - VKSND tỉnh Lâm Đ ng - VKSND thành phố Bảo Lộc - Ng i tham gia tố tụng - Chi cục T.H.A. - L u h sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Quảng |