- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phước Lộc - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2018/HSST Ngày: 04-05-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Trần Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Hữu Quang – Giáo viên Trường bồi dưỡng Quận 7;
2. Ông Mai Trọng Thắng – Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Tân Phong, Quận 7.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 04/05/2018 tại Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 04 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phước L; Giới tính: Nam; Sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số 9/9 N, ấp 4, xã X, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: nguyên làm lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Không biết họ tên cha và con bà Nguyễn Thị Lê H, sinh năm 1971; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2017, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Số 4/4 N, ấp 4, xã X, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện hợp pháp của anh Đỗ Văn T: Ông Nguyễn Văn M; Địa chỉ: 4/01 Ấp 4, xã X, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh T: Bà Nguyễn Ngọc Túy L – Luật sư Văn phòng Luật sư P thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 ngày 20/12/2017, tại trước địa chỉ 342 Nguyễn Văn Linh, khu phố 4, phường Bình Thuận, Quận 7, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 7 bắt quả tang Nguyễn Phước L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần phía bên phải của L 06 gói nylon chứa tinh thể không màu.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Nguyễn Phước L khai nhận bản thân là người nghiện ma túy. L thường mua ma túy của một người thanh niên tên U (không rõ lai lịch) có số điện thoại 0909837423 về để sử dụng, mỗi lần L mua 01 gói ma túy giá 500.000 đồng – 600.000 đồng. Trong quá trình mua ma túy sử dụng, L đã bán ma túy cho Đỗ Văn T hai lần, lần thứ nhất vào ngày 15/12/2017, bán cho T 01 gói ma túy giá 100.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 19/12/2017, bán cho T 01 gói ma túy giá 200.000 đồng.
Ngày 19/12/2017, một người phụ nữ (không rõ lai lịch) có số điện thoại 0932032757 gọi điện cho L hỏi mua ma túy. L đến khu vực bến xe miền Tây, Quận 6, nhờ một người chạy xe ôm mua 06 gói ma túy với giá 3.000.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 30 ngày 20/12/2017, L mang 06 gói ma túy trên đến trước địa chỉ số 342 Nguyễn Văn Linh, khu phố 4, phường Bình Thuận, Quận 7 để bán cho người phụ nữ, với giá 3.500.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Lời khai của Nguyễn Phước L phù hợp với lời khai của Đỗ Văn T và vật chứng thu giữ.
Theo Kết luận giám định số 168/KLGĐ-H ngày 29/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh: 6 gói nylon chứa tinh thể không màu được giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,1346g loại Methamphetamine.
* Vật chứng vụ án:
- 06 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 4,1346g Methamphetamine.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, sim số: 01265215686, 0907662755, số imei: 869299023530270, là điện thoại L dùng để liên lạc mua bán ma túy.
Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội mua bán trái phép chất ma túy như sau: Bị cáo nghiện ma túy nên mua ma túy về phân ra bán cho các con nghiện. Nguồn gốc ma túy bị cáo mua của người tên U không rõ nhân thân lai lịch. Mỗi lần mua là 01 gói ma túy với giá là 500.000 đồng – 600.000 đồng, bị cáo mang về nhà để bán cho các con nghiện. Bị cáo bán ma túy cho đối tượng nghiện tên là Đỗ Văn T hai lần, lần thứ nhất vào ngày 15/12/2017, bán cho T 01 gói ma túy giá 100.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 19/12/2017, bán cho T 01 gói ma túy giá 200.000 đồng.
Bản cáo trạng số 40/CT-VKSQ7 ngày 04 tháng 04 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Phước L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009;
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Phước L tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các T liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Nguyễn Phước L đã có hành vi mua trái phép chất ma túy và bán cho đối tượng nghiện nhiều lần. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Phước L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điểm b Khoản 2 Điều 194; Khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Phước L từ 7 năm đến 8 năm tù; Phạt bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy: 06 gói nylon chứa tinh thể không màu
+ Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, số imei: 869299023530270, sim số: 01265215686.
Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian tạm giam, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo trở về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1 Bị cáo Nguyễn Phước L đã có hành vi mua trái phép chất ma túy là Methamphetamine (MA) của đối tượng đàn ông tên U không rõ lai lịch về bán lại nhiều lần cho đối tượng nghiện ma túy là Đỗ Văn T nhằm thu lợi bất chính. Hành vi này của bị cáo Nguyễn Phước L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009.
2 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
3 Bị cáo có nhân thân chưa phạm tội nhưng nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử lý các bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Ngoài hình phạt chính còn buộc bị cáo Nguyễn Phước L chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền.
5 Về vật chứng, Cơ quan công an thu giữ:
- Gói ma túy sau giám định niêm phong vụ số 168/2018/Q7: Đây là chất ma túy bị cáo L tàng trữ để bán nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, sim số: 01265215686, 0907662755, số imei: 869299023530270 thu giữ của L: Là phương tiện liên lạc mua, bán ma túy nên xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với tên U (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 7 tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
7 Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
8 Bị cáo, ông Đỗ Văn T và ông Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194; Khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2017.
- Phạt bị cáo Nguyễn Phước L: 5.000.000đ (Năm triệu đồng)
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: Gói ma túy sau giám định niêm phong vụ số 168/2018/Q7.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, sim số: 01265215686, 0907662755, số imei: 869299023530270.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, Tài sản số 50 ngày 15/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh)
3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP HCM; - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu sổ án; - Lưu hồ sơ, Luyến. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Mai Trần Cảnh |