- Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Duy K pt Tang tru trai phep chat ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! QUẬN!CẨM!LỆ!-!TP.!ĐÀ!NẴNG Bản án số: 46 /2018/HS-ST Ngày 19-9-2018 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!CẨM!LỆ!THÀNH!PHỐ!ĐÀ!NẴNG!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"toà: Ông Lê Đức Thọ
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"
1. Ông Đặng Văn Khánh "
2. Ông Trần Đức Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng"tham
gia phiên tòa: Ông Phan Quang Đại Nam, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ,thành
phố Đà Nẵng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 41/2018/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2018/ HSST-QĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018, đối với:
Bị cáo!Lê!Duy!K, sinh ngày 16/9/1984 tại Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động
phổ thông. Nơi cư trú: Tổ 104, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê N và bà Lê Thị Thân A; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam 14/5/2018 cho đến nay; có mặt.
Bị Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
*"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan: Anh Phạm Hồ Minh Q, sinh năm
1997; trú tại: Tổ 22, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
"
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
!
!
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên
tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 13/5/2018, Lê Duy K liên lạc mua 2.000.000 đồng ma tuý
của Bằng Cọ (chưa xác định được lai lịch) và thuê phòng tại nhà nghỉ Torn đường Phạm Văn N, Tp Đà Nẵng để sử dụng. Đến sáng ngày 14/5/2018, Bon (chưa xác định được lai lịch) gọi điện thoại cho K hỏi xin ma tuý. K đồng ý và hẹn địa điểm giao ma tuý tại trước Bệnh viện T- Đà Nẵng. Do không có phương tiện đi lại nên K gọi cho Phạm Hồ Minh Q nhờ Q chở K đi.
Vào lúc 12 giờ 00 ngày 14/5/2018, Q điều khiển xe mô tô Exciter biển kiểm
soát 43G1... chở Lê Duy K đến khu vực gần Bệnh viện T- Đà Nẵng (thuộc tổ 39, phường K, quận C, Tp Đà Nẵng) thì bị Cơ quan Công an quận C phát hiện bắt quả tang, đồng thời thu giữ số tang vật sau:
Tại túi quần phía trước, bên trái của Lê Duy K đang mặc 01 điện thoại Iphone
4 màu đen, không gắn sim và 01 điện thoại Samsung màu đen đã bị hư hỏng không sử dụng được, được niêm phong trong bì thư kích thước 12x22cm, ký hiệu KT.39.01; tại túi quần phía trước, bên phải của K đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, gắn sim số: 01219485678, số Imei: 354496090899354; tại túi quần ngăn nhỏ phía trước, bên phải K đang mặc 01 gói nilon màu trắng kích thước 6x7cm, bên trong chứa chất nghi là ma túy, được niêm phong trong bì thư kích thước 12x22cm, ký hiệu KT.39.02; tại túi quần phía sau, bên phải của K đang mặc tiền Việt Nam 500.000 đồng. Tại túi quần phía trước bên phải của Phạm Hồ Minh Q đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng nhạt, gắn sim số: 01223823052, số Imei: 354741077595594.
Tại bản kết luận giám định số 82/GĐ-MT ngày 18/5/2018 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nilon được niêm phong ký hiệu KT.39.02 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng tinh thể mẫu là 1,282 gam.
Bản cáo trạng số 39/CT-VKSCL!ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát
nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Lê Duy K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản
cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà
Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Lê Duy K từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
- Đối với Phạm Hồ Minh Q có hành vi chở Lê Duy K đi từ nhà nghỉ Torn đến
Bệnh viện T, nhưng Q không biết K có mang theo ma tuý trong người. K cũng thừa nhận không nói cho Q biết K có mang theo ma tuý và đi giao ma tuý cho Bon. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Q là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử đề cập đến;
- Đối với mẫu giám định chất ma túy hoàn trả lại theo kết luận giám định số
82/GĐ-MT ngày 18/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 04 màu đen, không gắn
sim và 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã bị hư hỏng không sử dụng được là tài sản của Lê Duy K, không liên quan đến vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho chủ sở hữu.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, gắn sim số:
01219485678, số Imei: 354496090899354, của K dùng vào việc mua ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
- Đối với số tiền 500.000 đồng tạm giữ, đây là tài sản riêng của K không liên
quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho K, tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án;
- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu vàng nhạt, gắn sim
số: 01223823052, số Imei: 354741077595594; và xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, biển số: 43G1-..., số máy: G3D4B106761, số khung: 0610FY095003 là tài sản của Phạm Hồ Minh Q, không liên quan đến vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho chủ sở hữu.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!
!
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Duy K khai nhận hành vi
phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 14/5/2018, tại khu vực gần Bệnh viện T, thuộc tổ 39, phường K, quận C, Tp Đà Nẵng, Lê Duy K đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,282 gam ma túy loại Methamphetamin thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ phát hiện bắt quả tang. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Duy K đã phạm tội “Tàng"trữ"trái"phép"chất"ma"túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự: Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, bị cáo Lê Duy K là đối tượng có nhân thân xấu đã từng chấp hành án về tội “ cố ý gây thương tích” và “ gây rối trật tự công cộng” và nhiều lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện B, thành phố Đà Nẵng để cai nghiện ma túy bắt buộc, do đó bị cáo K nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, nhân cách con người, làm suy thoái giống nòi, là nguồn gốc dẫn đến những hoạt động tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo đã nhận thức rõ được tác hại vô cùng nguy hiểm của ma tuý đối với người sử dụng nói riêng và đối với toàn xã hội nói chung nhưng vì muốn có ma túy sử dụng mà bị cáo K đã bất chấp pháp luật tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện. Với hành vi tàng trữ trái phép 1,282 gam ma túy loại Methamphetamin nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo K mức án nghiêm minh tương xứng với hành vi và nhân thân của bị cáo K nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Song cũng xét, bị cáo K từng là quân nhân xuất ngũ; quá trình điều tra, truy tố
cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Trong vụ án này, đối với Phạm Hồ Minh Q có hành vi chở bị cáo Lê Duy K đi
từ nhà nghỉ Torn đến Bệnh viện T, nhưng Q không biết bị cáo K mang theo ma tuý trong người. Bị cáo K cũng thừa nhận không nói cho Q biết bị cáo K có mang theo ma tuý và đi giao ma tuý cho Bon. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Q là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
- Đối với mẫu giám định chất ma túy hoàn trả lại theo kết luận giám định số
82/GĐ-MT ngày 18/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 04 màu đen, không gắn
sim và 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã bị hư hỏng không sử dụng được là tài sản của Lê Duy K, không liên quan đến vụ án, Hội đồng xét xử tuyên trả cho bị cáo K;
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, gắn sim số:
01219485678, số Imei: 354496090899354, của K dùng vào việc mua ma túy nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ;
- Đối với số tiền 500.000 đồng tạm giữ, đây là tài sản riêng của K không liên
quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho K là phù hợp, tuy nhiên, cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án về phần án phí;
- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu vàng nhạt, gắn sim
số: 01223823052, số Imei: 354741077595594; và xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, biển số: 43G1..., số máy: G3D4B106761, số khung: 0610FY095003 là tài sản của Phạm Hồ Minh Q, không liên quan đến vụ án, Hội đồng xét xử tuyên trả cho chủ sở hữu là phù hợp.
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy K phạm tội “Tàng"trữ"trái"phép"chất"ma"túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Duy K 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 14.5.2018.
Áp dụng: Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015, tuyên:
- Tịch thu tiêu huỷ đối với mẫu giám định chất ma túy hoàn trả lại theo kết luận
giám định số 82/GĐ-MT ngày 18/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng;
- Trả lại cho bị cáo K 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 04 màu đen,
không gắn sim và 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã bị hư hỏng không sử dụng được;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu
xanh, gắn sim số: 01219485678, số Imei: 354496090899354, của K dùng vào việc mua ma túy;
- Trả lại cho bị cáo K số tiền 500.000 đồng, tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ để
đảm bảo thi hành án về phần án phí;
- Trả lại cho Phạm Hồ Minh Q 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu
vàng nhạt, gắn sim số: 01223823052, số Imei: 354741077595594 và 01 xe mô tô, nhãn hiệu Exciter, biển số: 43G1-..., số máy: G3D4B106761, số khung: 0610FY095003.
Tang"vật"trên"hiện"đang"tạm"giữ"tại"Chi"cục"Thi"hành"án"dân"sự"quận"Cẩm"Lệ" và" Kho" bạc" Nhà" nước" quận" Cẩm" Lệ" theo" biên" bản" giao" nhận" vật" chứng" ngày" 24/8/2018"và"theo"Giấy"nộp"tiền"vào"tài"khoản"ngày"24/8/2018."
Về án phí: Bị cáo Lê Duy K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
| Nơi nhận: -"TAND"TP."Đà"Nẵng; -"VKSND"TP.Đà"Nẵng; -"VKSND"quận"Cẩm"Lệ; -"Chi"cụcTHADS"quận"Cẩm"Lệ;"""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""" -"Những"người"tham"gia"tố"tụng; -"Lưu"hồ"sơ." " " !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Lê!Đức!Thọ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM THẨM!PHÁN-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA |