vanban.org

Bản án 46/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/9/2018. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2018/HS-ST
Ngày: 27-12-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Hoàng Vũ.

Ông Đặng Văn Hai.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2018, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2018/TLST-HS, ngày 03 tháng 12 năm 2018; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Thanh T, sinh năm: 1987; tại: Đồng Tháp; nơi cư trú: 84A, ấp T L, xã H T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng H; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang ngày 07/9/2018, tạm giữ từ ngày 08/9/2018 đến ngày 17/9/2018; tạm giam: từ ngày 17/9/2018 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Thị Kim C - sinh năm: 1973 (có mặt tại phiên tòa); trú tại: 163, ấp P A, xã T B, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

2. Nguyễn Thị Hồng H - sinh năm: 1965 (có mặt tại phiên tòa); trú tại: 84A,

ấp T L, xã H T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

Lê Văn C - sinh năm: 1963 (vắng mặt tại phiên tòa); trú tại: ấp L T, xã H L, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 07/9/2018, Bùi Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 66L1-318.02 đến chợ Vĩnh Long thuộc tỉnh Vĩnh Long, gặp người tên Hùng (không xác định rõ họ tên và địa chỉ) mua 02 bịch ma túy màu hồng và 01 bịch thuốc trộn màu trắng đem về sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 20 phút ngày 07/9/2018, T điều khiển xe mô tô biển số 66L1-318.02 đi trên Quốc lộ 80 khi đến đoạn đường thuộc ấp Long Thành, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, thì bị Đội Cảnh sát giao thông số 2 thuộc Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ Công an tỉnh Đồng Tháp, dừng xe để kiểm tra thì phát hiện T có dấu hiệu tàng trữ trái phép chất ma túy nên phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung lập biên bản bắt quả tang và tạm giữ tang vật gồm: Trong túi áo bên trái T đang mặc có gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có 02 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu hồng ký hiệu A1; 01 túi da màu đen để phía trên ba ga xe mô tô bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng ký hiệu A2; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter Fi màu đen xám, biển số 66L1-318.02; 01 túi đeo bằng da màu đen hiệu Hermes Paris T đang đeo trên người, bên trong chứa 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013093, tên chủ xe Bùi Thanh T, 02 túi nylon màu trắng hình chữ nhật, 01 cân điện tử No.Mini2-200, 05 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 ống hút nhựa tròn màu tím sọc trắng, 02 ống hút nhựa tròn màu cam, 02 bật lửa (ống quẹt) bằng kim loại màu đen, 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen số Seri 354493097144876, 01 điện thoại di động Oppo F3 màu trắng-vàng đồng số Imei 865251034405012 và 26.350.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 662/KL-KTHS, ngày 11/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:

- Tinh thể rắn màu hồng chứa trong 02 bịch nylon hàn kín được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1 là chất ma túy, có tổng khối lượng là 4,374 gam, loại Methamphetamine.

- Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 bịch nylon hàn kín được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A2 không phát hiện thành phần các chất ma túy và tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thường gặp, có khối lượng 0,544 gam.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS, ngày 19/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Bùi Thanh T ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Bùi Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Bùi Thanh T khai nhận đã có hành vi mua 02 bịch ma túy màu hồng và 01 bịch thuốc trộn màu trắng của người tên Hùng (không xác định rõ họ tên và địa chỉ) đem về tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng; tuy nhiên bị cáo cho rằng khi bị cáo bị bắt bị Công an thu giữ số tiền 26.350.000 đồng, trong số tiền này bị cáo T mượn của chị Lê Thị Kim C 5.000.000 đồng và mượn của bà Nguyễn Thị Hồng H là mẹ ruột của bị cáo T 20.000.000 đồng để trị bệnh; bị cáo T yêu cầu được nhận lại số tiền 26.350.000 đồng, để trả cho chị Chi và bà H; đồng thời bị cáo yêu cầu nhận lại xe môtô Yamaha Jupiter Fi và 01 điện thoại di động Nokia 105, còn 01 điện thoại di động Oppo F3 màu trắng-vàng đồng bị cáo cũng yêu cầu nhận lại để trả cho chị Chi.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Kim C trình bày: Ngày 07/9/2018 Bùi Thanh T có mượn của chị 5.000.000 đồng để đi trị bệnh và có mượn 01 điện thoại di động Oppo F3 màu trắng-vàng đồng; chị Chi yêu cầu được nhận lại số tiền trên và điện thoại di động Oppo F3, ngoài ra không trình bày gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng H trình bày: Ngày 06/9/2018 Bùi Thanh T có mượn của bà 20.000.000 đồng, T nói là để đi trị bệnh, bà yêu cầu được nhận lại số tiền 20.000.000 đồng, ngoài ra không trình bày gì thêm.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố đúng như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Bùi Thanh T đã có hành vi mua 02 bịch ma túy màu hồng và 01 bịch thuốc trộn màu trắng của người tên Hùng đem về tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông cốc ngoại tên Phạm Hữu D là Liệt sĩ; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt Bùi Thanh T từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

Tịch thu tiêu hủy:

+ Tinh thể rắn màu hồng còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng 4,131 gam;

+ Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A2 có khối lượng 0,457 gam.

+ 02 túi nylon nhựa màu trắng, hình chữ nhật; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 05 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 ống hút nhựa tròn màu tím sọc trắng, 02 ống hút nhựa tròn màu cam; 02 bật lửa (ống quẹt) bằng kim loại màu đen; 01 túi đeo bằng da màu đen hiệu Hermes Paris; 01 túi da màu đen.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 cân điện tử No.Mini2-200; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter Fi màu đen xám, biển số 66L1-318.02; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013093, tên chủ xe Bùi Thanh T, địa chỉ 84A ấp T L, xã H T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, biển số đăng ký 66L1-318.02, vì đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Trả lại cho bị cáo Bùi Thanh T: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số Seri 354493097144876; 01 điện thoại di động Oppo F3 màu trắng-vàng đồng, số Imei 865251034405012 và 26.350.000 đồng. Nhưng giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Bùi Thanh T thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Hai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì với Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Bùi Thanh T đã có hành vi mua 02 bịch ma túy màu hồng có tổng khối lượng là 4,374 gam, loại Methamphetamine và 01 bịch thuốc trộn màu trắng có khối lượng 0,544 gam của người tên Hùng đem về tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng. Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, cho nên hành vi của bị cáo Bùi Thanh T có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”.

Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi của bị cáo Bùi Thanh T là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước, qua đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh bình thường của con người. Đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận nhân dân đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên. Xét tính chất, mức độ, ý thức và hậu quả phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung cho những ai có tư tưởng như bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Bùi Thanh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông cốc ngoại tên Phạm Hữu D là Liệt sĩ đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với người tên Hùng ở Vĩnh Long bán ma túy cho bị cáo T, do T không biết rõ họ, tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý, khi nào được làm rõ thì xử lý sau.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Tịch thu tiêu hủy, do những tài sản không còn giá trị sử dụng gồm:

+ Tinh thể rắn màu hồng còn lại sau giám định có khối lượng 4,131 gam trong bì thư ghi ký hiệu A1 được niêm phong, trên bì thư có dòng chữ CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP – CÔNG AN HUYỆN LAI VUNG, có chữ ký và ghi họ tên Bùi Thanh T, có chữ ký và ghi họ tên Điều tra viên Lê Thanh T, có đóng dấu tròn đỏ của an xã Hòa Long.

+ Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 0,457 gam trong bì thư ghi ký hiệu A2 được niêm phong, trên bì thư có dòng chữ CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP – CÔNG AN HUYỆN LAI VUNG, có chữ ký và ghi họ tên Bùi Thanh T, có chữ ký và ghi họ tên Điều tra viên Lê Thanh T, có đóng dấu tròn đỏ của an xã H L.

+ 02 túi nylon nhựa màu trắng, hình chữ nhật; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET; 05 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 ống hút nhựa tròn, màu tím sọc trắng; 02 ống hút nhựa tròn màu cam; 02 bật lửa (ống quẹt gas) bằng kim loại màu đen; 01 túi đeo bằng da màu đen hiệu HERMES PARIS; 01 túi da màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 cân điện tử No.Mini2-200, vì đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho bị cáo Bùi Thanh T: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số sêri 1: 354493097144876, số sêri 2: 354495092144876; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER FI, màu sơn đen xám, dung tích 113, biển số 66L1-318.02, số máy E3S1E025276, số khung 1340FY001575; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013093, tên chủ xe: Bùi Thanh T, địa chỉ 84A ấp T L, xã H T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp và 1.350.000 đồng (trong số tiền 26.350.000 đồng số tiền này tạm giữ lúc bắt quả tang của bị cáo T); do các tài sản này không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo.

- Trả cho Lê Thị Kim C: 01 điện thoại di động OPPO F3 màu trắng-vàng đồng, số IMEI 1: 865251034405012, số IMEI 2: 865251034405004 và 5.000.000 đồng (trong số tiền 26.350.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo lúc bắt quả tang); do số tiền và điện thoại này không liên quan đến vụ án.

- Trả lại cho Nguyễn Thị Hồng H 20.000.000 đồng (trong số tiền 26.350.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo lúc bắt quả tang); do số tiền này không liên quan đến vụ án.

(Tất cả vật chứng, tiền và các tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/9/2018.

2. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Tinh thể rắn màu hồng còn lại sau giám định có khối lượng 4,131 gam trong bì thư ghi ký hiệu A1 được niêm phong, trên bì thư có dòng chữ CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP – CÔNG AN HUYỆN LAI VUNG, có chữ ký và ghi họ tên Bùi Thanh T, có chữ ký và ghi họ tên Điều tra viên Lê Thanh T, có đóng dấu tròn đỏ của an xã Hòa Long.

+ Tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 0,457 gam trong bì thư ghi ký hiệu A2 được niêm phong, trên bì thư có dòng chữ CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP – CÔNG AN HUYỆN LAI VUNG, có chữ ký và ghi họ tên Bùi Thanh T, có chữ ký và ghi họ tên Điều tra viên Lê Thanh T, có đóng dấu tròn đỏ của an xã Hòa Long.

+ 02 túi nylon nhựa màu trắng, hình chữ nhật; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET; 05 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 ống hút nhựa tròn, màu tím sọc trắng; 02 ống hút nhựa tròn màu cam; 02 bật lửa (ống quẹt gas) bằng kim loại màu đen; 01 túi đeo bằng da màu đen hiệu HERMES PARIS; 01 túi da màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 cân điện tử No.Mini2-200.

- Trả lại cho bị cáo Bùi Thanh T: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, số sêri 1: 354493097144876, số sêri 2: 354495092144876; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER FI, màu sơn đen xám, dung tích 113, biển số 66L1-318.02, số máy E3S1E025276, số khung 1340FY001575; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013093, tên chủ xe: Bùi Thanh T, địa chỉ 84A ấp T L, xã H T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp và 1.350.000 đồng (trong số tiền 26.350.000 đồng số tiền này tạm giữ lúc bắt quả tang của bị cáo T).

- Trả cho Lê Thị Kim C: 01 điện thoại di động OPPO F3 màu trắng-vàng đồng, số IMEI 1: 865251034405012, số IMEI 2: 865251034405004 và 5.000.000 đồng (trong số tiền 26.350.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo lúc bắt quả tang).

- Trả lại cho Nguyễn Thị Hồng H 20.000.000 đồng (trong số tiền 26.350.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo lúc bắt quả tang).

(Tất cả vật chứng, tiền và các tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Bùi Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/12/2018.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự: Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ