vanban.org

Bản án 46/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 20/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/7/2018. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2018/HS-ST
Ngày: 20-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA THÀNH,

TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Thuận.

2. Bà Đỗ Thị Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Thúy Vi – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 49/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Huỳnh Hữu T, sinh năm 1998, tại Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện CT, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu TT và bà Huỳnh Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị tạm giữ ngày 03/7/2018, chuyển sang tạm giam từ ngày 05/7/2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 02/7/2018, T một mình đi đến khu vực dốc Cây Me thuộc Phường 1, thành phố Tây Ninh mua của người tên CC (không rõ nhân thân, địa chỉ) 09 bịch ma túy nhỏ và 01 bịch ma túy lớn với giá 1.000.000 đồng. Mua xong đem về nhà, T sử dụng hết 02 bịch ma túy nhỏ, số còn lại cất giữ để dành sử dụng. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 03/7/2018 T đi taxi từ nhà đến phòng trọ số 03, nhà cho thuê tháng “Minh Thư” thuộc ấp A1, xã B1, huyện HT, tỉnh Tây Ninh để tìm bạn là Ng (tự Ken) nhưng không gặp nên nằm ở phòng trọ chờ Ng, đến 09 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh kiểm tra bắt quả tang T đang cầm trên tay 08 bịch nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng được niêm phong (kí hiệu M).

Tại Kết luận giám định số 742/KL-KTHS ngày 06/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng bên trong 08 bịch nylon màu trắng (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,1485 gam.

Đối với Ng không biết T tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với người tên CC bán ma túy cho T, hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSND-HT ngày 17 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, làm một người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, Kiểm sát viên thu thập: Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đều được tiến hành đúng theo trình tự, thủ tục luật định.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do dó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, tang vật vụ án cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 03/7/2018 tại phòng trọ số 03, nhà cho thuê tháng “Minh Thư” thuộc ấp A1, xã B1, huyện HT, tỉnh Tây Ninh Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh kiểm tra và bắt quả tang Nguyễn Huỳnh Hữu T đang cầm trên tay một gói thuốc lá hiệu Jet và một điện thoại di động hiệu Nokia (không có pin) bên trong có tổng cộng 08 bịch nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, qua giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,1485 gam. Bị cáo T khai nhận bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích bị cáo cất giấu ma túy theo người để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy , gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Bị cáo vẫn biết ma túy là hiểm họa của con người , cộng đồng và xã hội , viê ̣c sử dụng chất ma túy là nguy hiểm sẽ dẫn đến việc lây nhiễm HIV và là nguyên n hân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo ý thức được hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Thành đề nghị là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 742/KL-KTHS, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, trợ lý giám định Nguyễn Thị Xiếu và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xám đỏ, không có pin, đã qua sử dụng, số Imei: 355862/01/535810/8 và 01 điện thoại di động hiệu Philip, màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imeil: 863314039000642 bị cáo sử dụng trong việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet bị cáo sử dụng để cất giấu chất ma túy không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/7/2018.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 742/KL-KTHS, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, trợ lý giám định Nguyễn Thị Xiếu và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh và 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu Jet.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xám đỏ, không có pin, đã qua sử dụng, số Imei: 355862/01/535810/8 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Philip, màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imeil: 863314039000642.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Hữu T phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ