vanban.org

Bản án 46/2018/DS-ST — Tranh chấp đất đai

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu về ranh giới chung nối mốc 03 đến mốc 09; nối mốc 12 với mốc 17A và yêu cầu trả đất lấn chiếm C2 ông Trần Văn C1.

Ranh giới quyền sử dụng đất thửa 229, 262 hộ ông Trần Văn C1, bà Nguyễn Thị Thanh Ng, chị Trần Thị Thanh T, chị Trần Thị Bích Ng, chị Trần Thị Yến Ng, chị Trần Thị Mỹ Ng, anh Trần Hoàng Ph đang quản lý với thửa 236, 275 hộ ông Trần Văn Nh, bà Nguyễn Thị C2, anh Trần Minh Lu, anh Trần Minh Đ2, anh Tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "xv"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu về ranh giới chung nối mốc 03 đến mốc 09; nối mốc 12 với mốc 17A và yêu cầu trả đất lấn chiếm C2 ông Trần Văn C1.
  • Căn cứ chính? Điều 175 Bộ luật Dân sự; Điều 176 Bộ luật Dân sự; Điều 203 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2018/DS-ST
Ngày: 16/8/2018
V/v: “Tranh chấp
ranh giới quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Văn Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Bé Hai;

Bà Lƣơng Thị Kim Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ.

- Đại diện viện kiểm sát huyện C tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Điểu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 820/2017/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2017 về "tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2018/QĐXXST-DS, ngày 30 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Văn C1,

sinh năm 1961.

Địa chỉ: khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ, huyện C, Đ.

- Bị đơn:

Trần Văn Nh,

sinh năm 1966.

Địa chỉ: Khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ, huyện C, Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Thanh Ng,

sinh năm 1963.

Chị Trần Thị Thanh T,

sinh năm 1989.

Chị Trần Thị Bích Ng,

sinh năm 1992;

Chị Trần Thị Yến Ng,

sinh năm: 1994;

Chị Trần Thị Mỹ Ng,

sinh năm: 1996;

Anh Trần Hoàng Ph,

sinh năm: 1999;

* Thanh T, Bích Ng, Yến Ng, Mỹ Ng, Hoàng Ph cùng ủy quyền cho ông Trần Văn C1 theo văn bản ủy quyền 02/01/2018.

Cùng địa chỉ: Khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ, huyện C, Đ.

Bà Nguyễn Thị C2,

sinh năm 1964;

Anh Trần Minh Lu,

sinh năm 1986;

Anh Trần Minh Đ2,

sinh năm 1991;

Anh Trần Văn Thuận,

sinh năm 1989;

Chị Trần Thị Kim H,

sinh năm 1994;

Anh Trần Ng Tr,

sinh năm 2000.

Cùng địa chỉ: Khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ, huyện C, Đ.

( Anh Minh Đ2 có đơn xin xét xử vắng mặt, các đương sự còn lại có mặt tại phiên Tòa )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ông Trần Văn C1 đại diện cho Thanh T, Bích Ng, Yến Ng, Mỹ Ng, Hoàng Ph và ông trình bày:

Năm 1963 cha ông C1 là ông Trần Văn Cù, cha ông Nh là ông Trần Văn Sấm, cha C2 ông Trần Văn Phì là ông Trần Văn Diềm ( ông Cù, ông Sắm, ông Diềm là anh em ruột) mua chung 01 mảnh đất C2 bà Trần Thị Cơ chia ra làm 03 phần mỗi phần có kích thước, diện tích bằng nhau, giáp sông Xóm Giồng 29m, giáp lộ dal nông thôn 25,55m việc phân chia không làm giấy tờ. Giáp đất ông C1 đang quản lý là đất hộ ông Nh đang quản lý gồm thửa 236, 275 trong quá trình sử dụng cha, mẹ hai bên có trồng trụ ranh nhưng trụ ranh này hiện không còn. Năm 2003, ba bên gồm bên ông C1, ông Nh, ông Phì thống nhất đo đạc chia ra làm 03 phần có xuống trụ cây để làm cơ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau này phía ông Nh nhỗ bỏ việc phân định cũng không làm giấy tờ. Theo thẩm định ngày 24/11/2017 thì giữa hai bên thống nhất đoạn ranh tính từ lộ dal đến giáp ranh đất C2 huyện đội C nối mốc 03 đến mốc 09 dài 54,54m, phần còn lại từ lộ dal ra tới sông Xóm Giồng ông C1 cho rằng ranh chung 02 thửa 262, 275 nối mốc 12, mốc 25 đến mốc 17 dài 66,91m, theo đó yêu cầu hộ ông Nh trả phần lấn chiếm 73,9m2. Về cây cối như xoài, dừa, gáo nằm trong phần tranh chấp 73,9m2 do ông Nh trồng cách đây 10 năm ông Nh phải di dời. Còn về đất 02 thửa mà ông C1 đang quản lý 229, 262 vẩn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông C1 khẳng định 02 thửa này là phần mà cha mẹ chết để lại cho ông thừa hưởng. Về hiện trạng đất tại vị trí tranh chấp 73,9m2 ông không bồi đắp gì. Về định giá tài sản tranh chấp ông thống nhất không khiếu nại

- Ông Trần Văn Nh trình bày:

Năm 1963, ông Trần Văn Sấm cha ông Nh có cùng với cha ông C1 là ông Trần Văn Cù, cha ông Phì là ông Trần Văn Diềm nhận chuyển nhượng với bà Trần Thị Cơ diện tích mỗi người là bằng nhau thông qua tờ đoạn mại ruộng vườn hiện nay thuộc thửa 275, 236 tờ bản đồ số 06 đất tọa lại thị trấn Mỹ Thọ, huyện C, tỉnh Đ do gia đình ông đang quản lý, chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình sử dụng đất cha C2 ông là ông Sấm có lấn qua phần đất C2 địa chủ vị trí phía đông C2 02 thửa đất nhưng không biết diện tích lấn chiếm bao nhiêu. Năm 1999 cha, mẹ C2 ông là ông Sấm, bà Song lập tờ di chúc để lại thửa đất cùng toàn bộ tài sản trên đất cho ông thừa hưởng vì ông là con út trong gia đình. Trong quá trình canh tác đất ông có trồng số cây như dừa, xoài gáo giáp ranh đất ông C1 ( trồng cách đây khoản 20 năm ). Về ranh đất thửa 236 C2 ông quản lý giáp với thửa 229 C2 ông C1 quản lý sử dụng là đường thẳng nối mốc 03 đến mốc 09 dài 54,54m như phía ông C1 trình bày là đúng. Đối ranh chung giữa thửa 275 với thửa 262 ông không đồng ý nối mốc 12, đến mốc 25, đến mốc 17 dài 66,91m như ông C1 yêu cầu và ông cũng không đồng ý trả diện tích 73,9m2. Về cây cối mà ông đã trồng nếu theo phán quyết C2 Tòa án về ranh mà cây C2 ông nằm qua đất C2 ông C1 đang quản lý thì ông đồng ý di dời chứ không yêu cầu trả giá trị dù đã được Hội đồng xét xử giải thích về quyền yêu cầu trả giá trị. Về hiện trạng đất tại vị trí tranh chấp 73,9m2 ông không bồi đắp gì. Về định giá tài sản tranh chấp ông thống nhất không khiếu nại.

- Bà Nguyễn Thị C2, anh Trần Minh Lu, anh Trần Văn Thuận, chị Trần Thị Kim H, anh Trần Ng Tr không trình bày gì thêm.

NHẬN ĐỊNH C2 TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật dân sự là “Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất ”. Quyền sử dụng đất đang tranh chấp tọa lạc tại thị trấn Mỹ Thọ, huyện C, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết C2 Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; Điều 175, 176 Bộ luật dân sự. Đối với anh Minh Đ2 vắng mặ tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp với điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử, xử vắng mặt anh Minh Đ2.

Về nội dung:

Hội đồng xét xử nhận thấy, nguồn gốc đất C2 ông C1 và ông Nh đang quản lý là C2 cha mẹ hai bên để lại cho hai ông thừa hưởng. Ông C1 quản lý thửa 229, thửa 262 tờ bản đồ số 06 đất tọa lạc tại thị trấn Mỹ Thọ, huyện C, hàng thừa kế thứ nhất C2 ông Cù thừa nhận đất trên là phần đất cha mẹ để lại cho ông C1. Ông Nh quản lý thửa 236, 275 tờ bản đồ số 06 đất tọa lạc tại thị trấn Mỹ Thọ, huyện C được anh, em ông Nh xác định đất cha mẹ để lại cho ông Nh thừa hưởng thông qua tờ di chúc ngày 19/9/1999, các thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cũng theo trình bày C2 hai bên đất này cha, mẹ C2 hai ông là ông Cù, ông Sấm nhận chuyển nhượng C2 bà Trần Thị Cơ vào năm 1963 có diện tích bằng nhau. Ông C1 cho rằng trong quá trình sử dụng đất ông Cù, ông Sấm có xuống trụ cây phân định ranh chung đến năm 2003 cả ông và ông Nh có nhu cầu kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì giữa ông với ông Nh có thống nhất đo đạt xuống trụ đá và kích thước thửa 262 Ngng giáp sông Xóm Giồng 29m. Căn cứ ông C1 đưa ra để xác định ranh chung vị trí giáp sông Xóm Giồng từ mốc 17 kéo qua đất ông Phì 29m trên sơ đồ đo đạt C2 Trung Tâm Kỷ Thuật Tài Nguyên Môi trường là chưa có căn cứ thuyết phục vì không có văn bản thể hiện kích thước này và tại phiên tòa ông Nh không thừa nhận có việc đo đạt thống nhất ranh vào năm 2003 như ông C1 trình bày. Tuy nhiên, tại phiên Tòa ông C1 thay đổi yêu cầu lấy mốc số 17 kéo về hướng mốc 18 một đoạn 01m tạo thành mốc 17A nối với mốc 12 là mốc hai bên thống nhất nằm cặp lộ dal làm ranh chung và yêu cầu hộ ông Nh trả đất chiếm 46m2, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận. Vì trình bày C2 đương sự tại phiên tòa cũng như nội dung tờ Đoạn mại ruộng đất năm 1963 giữa bà Cơ với ông Cù, ông Sấm thể hiện diện tích hai bên thời điểm cha, mẹ nhận chuyển nhượng là bằng nhau. Trên cơ sở đó đối chiếu diện tích thực tế được thẩm định ngày 24/11/2017 thể hiện diện tích 02 thửa C2 ông C1 quản lý 3.132,8m2, diện tích đất 02 thửa do ông Nh quản lý 3.249.8m2 chưa tính phần tranh chấp 46m2. Qua so sánh thấy đất ông C1 02 thửa có diên tích nhỏ hơn đất ông Nh quản lý nên tại phiên tòa ông C1 yêu ông Nh trả diện tích lấn chiếm 46m2, nối mốc 17A với mốc 12 dài 66,79m làm ranh chung giữa 02 thửa 262 và thửa 275 có căn cứ để chấp nhận. Đối với 02 thửa 229 và thửa 236 giữa hộ ông Nh với hộ ông C1 thống nhất nối mốc 03 với mốc 09 dài 54,54m làm ranh chung thấy phù hợp nên chấp nhận ranh chung giữa 02 thửa 229, 236 như hai bên xác định.

Đối với cây cối C2 ông Nh trồng như xoài, gáo, dừa tại phiên tòa hộ ông Nh đồng ý di dời nên hộ ông Nh có nghĩa vụ di dời toàn bộ cây C2 ông Nh nằm qua đất ông C1 theo ranh mới được thiết lập.

Xét phát biểu quan điểm C2 đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C về trình tự thủ tục tố tụng giải quyết vụ án từ giai đoạn thụ lý đến khi xét xử, đảm bảo đúng theo quy định C2 Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xem xét chấp nhận yêu cầu đòi đất, di dời cây cối, yêu cầu về ranh C2 ông C1 là phù hợp nên chấp nhận toàn bộ lời phát biểu C2 đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí: Ông Trần Văn Nh có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị Quyết về án phí, lệ phí số: 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 C2 Ủy ban tH vụ Quốc hội. Và số tiền án phí dân sự sơ thẩm được tính như sau:

46m2 x 90.000đồng/m2 = 4.140.000đồng án phí phải nộp 300.000đồng.

Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Ông Trần Văn Nh phải nộp để trả lại cho ông C1 vì ông C1 đã tạm ứng trước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; Điều 175, 176 Bộ luật dân sự; điều 26 luật thi hành án dân sự; Nghị Quyết về án phí, lệ phí số: 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 C2 Ủy ban tH vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu về ranh giới chung nối mốc 03 đến mốc 09; nối mốc 12 với mốc 17A và yêu cầu trả đất lấn chiếm C2 ông Trần Văn C1.

- Ranh giới quyền sử dụng đất thửa 229, 262 hộ ông Trần Văn C1, bà Nguyễn Thị Thanh Ng, chị Trần Thị Thanh T, chị Trần Thị Bích Ng, chị Trần Thị Yến Ng, chị Trần Thị Mỹ Ng, anh Trần Hoàng Ph đang quản lý với thửa 236, 275 hộ ông Trần Văn Nh, bà Nguyễn Thị C2, anh Trần Minh Lu, anh Trần Minh Đ2, anh Trần Văn Thuận, chị Trần Thị Kim H, anh Trần Ng Tr đang quản lý cùng tờ bản đồ số 6 đất tọa lạc tại khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ, huyện C được xác định như sau:

+ Mốc 3: mốc 3 cách gốc nhà mồ bên phải nhìn từ đường dal vào 16,93m, cách gốc khu mộ bên phải nhìn từ lộ dal vào 12,65m, cách gốc khu mộ bên trái nhìn từ đường dal vào 12,01m

+ Mốc 9: mốc 9 cách gốc nhà bên trái C2 ông C1 nhìn từ đường dal vào 18,07m, cách gốc nhà bên phải C2 ông Nh nhìn từ lộ dal vào 17,30m.

Nối mốc số 03 với mốc 09 dài 54,54m là ranh giữa hai thửa đất 229 với thửa 236 tờ bản đồ số 6 đất tọa lạc tại khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ, huyện C.

+ Mốc 12: mốc 12 cách gốc nhà bên phải C2 ông Nh nhìn từ lộ dal vào 16,20m, cách gốc nhà phụ bên trái C2 ông C1 15,80m.

+ Mốc 17A: mốc 17A cách mốc 17 là 01m, cách mốc 18 là 1,39m ( trong đó mốc 17 cách cây xoài 23,35m, cách cây dừa 28,58m, mốc 18 cách cây xoài 13,07m).

Nối mốc 12 với mốc 17A dài 66,79m là ranh chung giữa 02 thửa 262 với thửa 275 tờ bản đồ số 6 đất tọa lạc tại khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ, huyện C.

- Buộc hộ ông Trần Văn Nh, bà Nguyễn Thị C2, anh Trần Minh Lu, anh Trần Minh Đ2, anh Trần Văn Thuận, chị Trần Thị Kim H, anh Trần Ng Tr giao cho hộ ông Trần Văn C1, bà Nguyễn Thị Thanh Ng, chị Trần Thị Thanh T, chị Trần Thị Bích Ng, chị Trần Thị Yến Ng, chị Trần Thị Mỹ Ng, anh Trần Hoàng Ph 46m2 thuộc thửa 262 tờ bản đố số 06 đất tọa lạc tại khóm Mỹ Thuận, thị trấn Mỹ Thọ, huyện C.

- Hộ Trần Văn Nh, bà Nguyễn Thị C2, anh Trần Minh Lu, anh Trần Minh Đ2, anh Trần Văn Thuận, chị Trần Thị Kim H, anh Trần Ng Tr có nghĩa vụ di dời ( hoặc chặt bỏ ) cây trồng có trên diện tích 46m2 như xoài, gáo, dừa.

Ranh giới quyền sử dụng đất thửa 229 với thửa 236, thửa 262 với thửa 275 là phương thẳng đứng từ không gian xuống lòng đất. Hộ ông Trần Văn C1, bà Nguyễn Thị Thanh Ng, chị Trần Thị Thanh T, chị Trần Thị Bích Ng, chị Trần Thị Yến Ng, chị Trần Thị Mỹ Ng, anh Trần Hoàng Ph, hộ ông Trần Văn Nh, bà Nguyễn Thị C2, anh Trần Minh Lu, anh Trần Minh Đ2, anh Trần Văn Thuận, chị Trần Thị Kim H, anh Trần Ng Tr có nghĩa vụ di dời các vật kiến trúc (trên mặt đất, dưới lòng đất), di dời ( hoặc chặt bỏ ) cây trồng C2 bên này nằm qua đất C2 bên kia và ngược lại.

(Kèm theo biên bản thẩm định và sơ đố mốc cùng ngày 24/11/2017 C2 Trung tâm kỷ thuật tài Nguyên môi trường tỉnh Đ)

- Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Ông Trần Văn Nh phải nộp 6.902.717đồng để trả lại cho ông Trần Văn C1 vì ông C1 đã tạm ứng trước.

Về án phí: Ông Trần Văn Nh phải nộp 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trần Văn C1 được nhận lại 650.000đồng tiền tạm ứng áp phí đã nộp theo biên lai số 16319 ngày 30/10/2017 C2 Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đ. Riêng anh Minh Đ2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ