vanban.org

Bản án 46/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt Giàng A S: 30 ( Ba mƣơi ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/02/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A S phạm tội Tàng trữ trái phép chât ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG LA
TỈNH SƠN LA
_______

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2017/HSST
Ngày 20- 7- 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG LA, TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Điêu Thị Kim Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Thái và ông Nguyễn Đức Quyết

Thư ký phiên toà: Bà Quàng Thị Thủy, Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Mƣờng La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Tạ Văn Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã MB, huyện ML, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2017/TLST - HS ngày 05 tháng 6 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 51/2017/HSST – QĐ ngày 10 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Giàng A S sinh năm 1994 tại xã MG, huyện QN, tỉnh Sơn La; Nơi cƣ trú: Bản HN, xã MG, huyện QN, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Con ông Giàng A P và bà Mùa Thị M; Bị cáo có vợ là Mùa Thị L và 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2017 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cầm Kim L, Trợ giúp viên pháp lí Trung tâm trợ giúp pháp lí nhà nƣớc tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người phiên dịch: Ông Thào A T, cán bộ công tác tại: Chi cục thi hành án dân sự huyện Mƣờng La, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/02/2017 Giàng A S đi xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu trắng, đen, biển kiểm soát 26L1 – 048.41 chở em trai là Giàng A L từ nhà sang bản PP, xã CL, huyện ML chơi. Khi đến nơi S đứng đợi ngoài đƣờng bản còn L vào bản chơi. Trong lúc chờ L thì S gặp một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ hỏi S có mua hêrôin không, S nhất trí mua, ngƣời đàn ông đó đƣa cho S gói hêrôin với giá 800.000đ. Sau khi xem xong gói hêrôin và đƣa cho ngƣời đàn ông đó 800.000đ, S cất hêrôin vào túi áo khoác đang mặc và đứng đợi L. Đến khoảng 22 giờ 30 phút S chở L về nhà. L không biết việc S cất giữ hêrôin trong ngƣời. Khi đi đến khu vực ngã ba bản HC, xã NG, huyện ML thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

01 gói nilon màu xanh bên trong đựng chất bột màu trắng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu trắng – đen, biển kiểm soát 26L1 – 04841, số khung RLCS5C6J0EY059744, số máy 5C6J059383; 01 phong bì công văn của Công an huyện Mƣờng La đƣợc niêm phong bên trong đựng que thử chất ma túy của đối tƣợng Giàng A S; 01 phong bì công văn của Công an huyện Mƣờng La đƣợc niêm phong bên trong đựng que thử chất ma túy của đối tƣợng Giàng A L.

Ngày 16/02/2017 cơ quan điều tra Công an huyện Mƣờng La đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định. Kết quả cân tịnh: Số bột màu trắng thu giữ của Giàng A S có khối lƣợng 3,04 gam; lấy 0,18 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu SL.

Tại kết luận giám định số 259/KLMT ngày 20/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu SL là chất ma túy; loại chất Heroin.

Do có hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 365/KSĐT- MT ngày 04-6-2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mƣờng La đã truy tố bị cáo Giàng A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Giàng A S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mƣờng La truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng ngƣời, đúng tội.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Giàng A S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015: xử phạt Giàng A S từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì công văn Công an huyện Mƣờng La đã đƣợc niêm phong dán kín đựng vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ + SL1 = 2,86 gam; 01 chiếc phong bì công văn Công an huyện Mƣờng La đã đƣợc niêm phong dán kín đựng que thử chất ma túy đối tƣợng Giàng A S; 01 chiếc phong bì công văn Công an huyện Mƣờng La đã đƣợc niêm phong dán kín đựng que thử chất ma túy đối tƣợng Giàng A L;

Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu trắng đen, biển kiểm soát 26L1 – 04841, số khung RLCS5C6J0EY059744, số máy 5C6J059383 đăng kí mang tên Giàng A S.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo bà Cầm Kim L trình bày lời bào chữa: Nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mƣờng La đối với bị cáo. Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải do đó đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo, ngƣời bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mƣờng La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mƣờng La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, ngƣời bào chữa cho bị cáo, bị cáo không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Giàng A S khai nhận: Ngày 15/02/2017 đã có hành vi cất giữ trái phép 3,04 gam hêrôin thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Về mục đích mua và cất giữ trái phép hêrôin. Súa khai tự ý mua để dùng làm thuốc giảm đau cho bố đang bị bệnh là ông Giàng A P. Quá trình điều tra xác định ông Giàng A P nghiện ma túy từ lâu, bị câm, điếc nặng nên không lấy đƣợc lời khai do đó không có căn cứ kết luận mối liên quan giữa hành vi tàng trữ chất ma túy của Giàng A S và ông Giàng A P. Buộc bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với khối lƣợng ma túy thu giữ.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của ngƣời làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 3,04 gam hêrôin của bị cáo Giàng A S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự có mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Mƣờng La đã truy tố đối với bị cáo là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 thì cần áp dụng các quy định có lợi cho ngƣời phạm tội. Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 thì Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 tƣơng ứng với quy định tại khoản 1 Điều 249 có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm. Do đó bị cáo Giàng A S chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nƣớc, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phƣơng thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Bản thân bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi cất giữ trái phép chất ma tuý là phạm tội nhƣng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra, xét bị cáo không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Giàng A L là em trai của Giàng A S, ngày 15/02/2017 đi cùng S đến bản Phiêng P, xã CL, huyện ML chơi. Tuy nhiên L không biết việc S mua và cất giữ ma túy do đó hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Về nguồn gốc số hêrôin Giàng A S khai mua của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.

Vật chứng vụ án: 01 chiếc phong bì công văn Công an huyện Mƣờng La đã đƣợc niêm phong dán kín đựng vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ + SL1 = 2,86 gam là vật cấm lƣu hành; 01 chiếc phong bì công văn Công an huyện Mƣờng La đã đƣợc niêm phong dán kín đựng que thử chất ma túy đối tƣợng Giàng A S; 01 chiếc phong bì công văn Công an huyện Mƣờng La đã đƣợc niêm phong dán kín đựng que thử chất ma túy đối tƣợng Giàng A L là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu trắng đen, biển kiểm soát 26 L1 – 04841, bị cáo khai nhận về nguồn gốc tiền mua xe là của bị cáo. Ngày 15/02/2017 bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Giàng A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt Giàng A S: 30 ( Ba mƣơi ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/02/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

-Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc phong bì công văn Công an huyện Mƣờng La đã đƣợc niêm phong dán kín đựng vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ + SL1 = 2,86 gam; 01 chiếc phong bì công văn Công an huyện Mƣờng La đã đƣợc niêm phong dán kín đựng que thử chất ma túy đối tƣợng Giàng A S; 01 chiếc phong bì công văn Công an huyện Mƣờng La đã đƣợc niêm phong dán kín đựng que thử chất ma túy đối tƣợng Giàng A L.

Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu trắng đen, biển kiểm soát 26L1 – 04841, số khung RLCS5C6J0EY059744, số máy 5C6J059383, có 01 gƣơng trái, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2017 giữa Công an huyện Mƣờng La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mƣờng La).

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Giàng A S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Sơn La;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Mƣờng La;

(Đã ký)

- Công an huyện Mƣờng La;

- Bị cáo;

- Ngƣời bào chữa;

- Chi cục THADS huyện Mƣờng La;

- Sở tƣ pháp tỉnh Sơn La;

- THAHS;

Điêu Thị Kim Liên

- Lƣu;

Cỡ chữ