vanban.org

Bản án 46/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Kiều H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn S, sinh ngày 18/4/2004, Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 10/3/2006 và Nguyễn Thị Kiều O, sinh ngày 19/7/2011 cho chị Trương Thị Kiều H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Về … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Kiều H và Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Kiều H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƢỚC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:46/2017/HNGĐ-ST
Ngày:29-9-2017.
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Liễu

2. Bà Trần Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu -Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:140/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2017 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:37/2017/QĐXX-ST ngày 05 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Trƣơng Thị Kiều H, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

(Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh T)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trương Thi Kiều H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T sống chung với nhau năm 2001, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/7/2001. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh khoảng một năm nay nguyên nhân do anh T thường xuyên đi nhậu, không lo cho vợ con, ngoài ra anh T còn thường xuyên ghen tuông vô cớ, vợ chồng không thể có tiếng nói chung. Chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh T nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có ba đứa con chung tên là Nguyễn Văn S, sinh ngày 18/4/2004, Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 10/3/2006 và Nguyễn Thị Kiều O, sinh ngày 19/7/2011. Cả ba đứa con đều đang sống chung với chị nên khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi các cháu cho đến khi trưởng thành. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T, trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn T nhiều lần nhưng anh T vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Trương Thị Kiều H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung.

Phát biểu của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Trương Thi Kiều H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T, cho chị H được trực tiếp nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ lời trình bày của đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trương Thị Kiều H tranh chấp yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Kiều H và anh Nguyễn Văn T sống chung có đăng ký kết hôn năm 2001, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Chị H cho rằng quá trình chung sống không hạnh phúc do anh T không lo cho vợ con, thường xuyên ghen tuông vô cớ, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn kéo dài đã hơn một năm, chị và anh T đều nhận thấy không thể tiếp tục chung sống được nữa nên đến tháng 6 năm 2017 chị đã về nhà cha, mẹ ruột ở. Hiện tại mỗi người có cuộc sống riêng, hoàn toàn không còn liên hệ. Tòa án đã tổ chức hòa giải đoàn tụ nhưng anh T không đến tham gia hòa giải. Tại phiên Tòa chị H vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh T. Điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Kiều H.

Về con chung: Chị Trương Thị Kiều H yêu cầu trực tiếp nuôi các con chung là tên Nguyễn Văn S, sinh ngày 18/4/2004, Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 10/3/2006 và Nguyễn Thị Kiều O, sinh ngày 19/7/2011. Xét thấy các con chung của anh T và chị H đều chưa thành niên, cần có người trực tiếp nuôi dưỡng và các cháu đã sống chung với chị H từ lúc mới sinh ra cho đến nay, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án anh T không có ý kiến về việc chị H yêu cầu được nuôi con. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy chị H có thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trương Thị Kiều H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Kiều H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn S, sinh ngày 18/4/2004, Nguyễn Thị Kiều T, sinh ngày 10/3/2006 và Nguyễn Thị Kiều O, sinh ngày 19/7/2011 cho chị Trương Thị Kiều H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Trương Thị Kiều H chưa có yêu cầu.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trương Thị Kiều H phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị Trương Thị Kiều H đã nộp theo biên lai thu số 18736 ngày 10/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị H đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo:

Chị Trương Thị Kiều H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án.

Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ